anh đã biết yêu thương từ đó
YÊU ĐƠN PHƯƠNG CHƯA BIẾT CÁCH CÓ ĐƯỢC NGƯỜI ĐÓ THÌ NHẮN TÔI GIÚP CHO NHÉ !!! Từ người thương hóa thành người yêu ngay lập
Bạn đang tìm nơi tải sách Đắc Nhân Tâm (Bìa Mềm)(Tái Bản) PDF miễn phí. Bạn đã tìm thấy thuviensach.org.. Dựa trên thông tin cập nhật tính đến ngày 18/10/2022, cuốn sách Đắc Nhân Tâm (Bìa Mềm)(Tái Bản) do tác giả Dale Carnegie viết và được First News – Trí Việt phát hành vào ngày 2021-07-01 00:00:00.
Video TikTok từ Chuyện Cũ Đã Qua (@chuyencudaqua): "Anh biết, ai yêu nhiều hơn người đó thua cuộc. Ai lo lắng để tâm nhiều hơn, người đó dễ tổn thương #cuuvankipkhong #vuonganhtu #ccdq #tngroup". nhạc nền - Chuyện Cũ Đã Qua.
“Và thế là em đã biết nhớ thương” Là câu hát vô cùng viral từ ca khúc Lời bài hát Anh Đánh Rơi Người Yêu Này! – Andiez, AMEE/ Wikiaz.net. Hôm nay Wikiaz.net sẽ chia sẻ cùng bạn lời bài hát ca khúc này. Lời bài hát Anh Đánh Rơi Người Yêu Này lyrics!
It was nothing; they don't know what love is. QED. “Lẽ thật Kinh Thánh giúp tôi biết yêu thương kẻ thù”, anh Hortêncio giải thích. “Bible truth helped me to have love for my enemy,” Hortêncio explains. jw2019. Thứ nhất, loài người có khả năng hiểu biết, yêu thương và kính sợ Đấng Tạo Hóa
Frau Sucht Reichen Mann Im Internet. Thành ngữ là một trong những “gia vị” tuyệt vời tạo nên nét đẹp trong các ngôn ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng. Thành ngữ tiếng Anh rất đa dạng, phong phú và hàm chứa nhiều ý nghĩa khác nhau. Đặc biệt, thành ngữ về tình yêu vẫn luôn là chủ đề hấp dẫn trong giao tiếp tiếng Anh vì nó giúp tạo ra nhiều cảm hứng. Dưới đây là 28 thành ngữ nổi bật giúp bạn trau chuốt hơn trong cách nói và nhất là khi bạn có ý định “đốn tim” crush của mình nhé! 1. To fall in love/to fall for someone Falling in love with someone/ to fall for someone dùng để chỉ cảm xúc mãnh liệt dành cho một ai đó hoặc bị ai đó hấp dẫn. Ví dụ I think I’m falling in love with you. I think I’m falling for you. Tớ nghĩ, mình đã phải lòng cậu mất rồi 2. To be head over heels in love Nếu bạn are/ fall head over heels in love với ai đó, điều đó có nghĩa bạn đang yêu một cách toàn tâm toàn ý, yêu tha thiết. Ví dụ I fell head over heels in love with you the moment I saw you. Anh đã yêu em tha thiết ngay từ khoảnh khắc đầu gặp gỡ 3. A blind date “A blind date” ám chỉ là một cuộc gặp gỡ lãng mạn giữa hai người chưa từng gặp mặt. Ví dụ I get very nervous when I have to go on a blind date. Tôi cảm thấy bồn chồn khi phải đi xem mắt My best friend went on a blind date nine years ago, and she and her husband have three children now! Bạn thân nhất của tôi đã tham gia một buổi xem mắt cách đây 9 năm, cô ấy và chồng hiện có ba đứa con! 4. To be blinded by love/love is blind Xuất phát từ thực tế khi yêu, mọi người đều thấy mọi thứ đều hoàn hảo, không nhìn thấy khuyết điểm của đối phương. To be blinded by love/love is blind là cụm thành ngữ ám chỉ về sự mù quáng trong tình yêu hoặc yêu một cách mù quáng. Ví dụ He was so blinded by love that he couldn’t see that she wasn’t faithful. Anh ta bị tình yêu làm mờ mắt nên mới không nhận ra cô ấy chẳng hề chung thủy Mary believes everything Christian says even when he lies to her. Love is blind! Mary tin mọi thứ Christian nói kể cả khi anh ta lừa gạt cô. Tình yêu thật mù quáng 5. To be infatuated Bạn đã bao giờ có cảm giác bị ai đó mê hoặc nhưng cảm xúc đó chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn rồi biến mất? “To be infatuated” là thành ngữ chỉ cảm xúc mê đắm, cuồng dại, nhưng chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn. Ví dụ Anna is infatuated with her neighbor, Mark. Anna đang mê tít anh chàng hàng xóm Mark 6. Those three little words Khi ai đó nói với bạn “those three little words”, có nghĩa là họ đang ám chỉ “I love you”. Đối với một số người, “I love you” rất khó khó nói. Nếu bạn không cảm thấy thoải mái khi nói “I love you”, hãy sử dụng cách diễn đạt này để thay thế! Ví dụ He said those three little words last night. I’m so happy! Tối qua anh ấy đã nói yêu tôi. Tôi hạnh phúc vô cùng You know I don’t want to listen to those three little words anymore. Anh biết em không còn muốn nghe anh nói yêu em nữa 7. To have the hots for someone Nếu bạn “have the hots for someone” có nghĩa bạn thấy họ rất hấp dẫn. Ví dụ I have the hots for Marian. Tôi thấy Marian thật quyến rũ Bạn cũng có thể sử dụng từ “hot” để nói ai đó hấp dẫn. Wow, Tiff is so hot! Wow, Tiff thật nóng bỏng! 8. Love at first sight “Love at first sight” là thành ngữ sử dụng theo nghĩa đen. Khi bạn “fall in love at first sight”, nghĩa là bạn đã yêu từ cái nhìn trong lần đầu tiên gặp gỡ. Ví dụ It was love at first sight, and we’ve been together for 12 years already. Đó là tình yêu sét đánh, và chúng tôi đã bên nhau 12 năm rồi “Love at first sight” cũng có thể được sử dụng khi nói về động vật hoặc thậm chí là đồ vật. Ví dụ When I saw the puppy, I knew it was love at first sight. Khi nhìn thấy chú chó nhỏ đó, tôi thực sự thích nó Mark fell in love at first sight as soon as he saw that car. Mark mê tít chiếc xe ngay lần đầu nhìn thấy nó 9. To be a love rat Không phải tất cả thành ngữ về tình yêu đều tốt đẹp và tràn đầy năng lượng tích cực. “To be a love rat” là một minh chứng rõ ràng. Chuột là loài động vật không được mọi người yêu thích và khi chúng xuất hiện trong thành ngữ sẽ dùng để ám chỉ một người có tính trăng hoa, không chung thủy với bạn đời của họ. Ví dụ John has had affairs with several women. He’s definitely a love rat! John đang cặp kè với vài người phụ nữ. Hắn là kẻ trăng hoa 10. A match made in heaven “A match is made in heaven”, nghĩa là hai người hoàn hảo, tâm đầu ý hợp. Đây là kiểu quan hệ mà chúng ta mong muốn trong cuộc sống. Ví dụ Jill and I are a match made in heaven. We couldn’t be happier! Tôi và Jill tâm đầu ý hợp. Chúng tôi vô cùng hạnh phúc, mãn nguyện Trái lại, “a match made in hell” ám chỉ mối quan hệ không mấy tốt đẹp. Ví dụ They’ve been fighting since they moved in together. They can’t see that they’re a match made in hell. Kể từ khi sống chung, họ đánh nhau suốt ngày. Họ chẳng khác nào như nước với lửa 11. To be an item Khi hai người được mô tả “an item”, có nghĩa họ đang là một cặp ở bên nhau. Ví dụ Did you know that Sam and Jeffree are an item? Cậu có biết Sam và Jeffree đang hẹn hò không? 12. Puppy love “Puppy love” thường mô tả sự rung động tương tự như “To be infatuated”, tình yêu trẻ con. Thành ngữ này thường được người lớn sử dụng nhất để mô tả tình yêu của trẻ con. Ví dụ What Timmy and Suzy have is just puppy love, but they look so cute together! Chuyện Timmy và Suzy chỉ là tình yêu trẻ con nhưng 2 đứa ở cạnh nhau thật dễ thương 13. Kiss and make up “Kiss and make up” là thành ngữ được hiểu theo nghĩa bóng ám chỉ sự làm lành, làm hòa của các cặp đôi. Ví dụ They just kissed and made up as if nothing happened. Họ đã làm lành với nhau như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra Cụm từ này cũng được sử dụng cho những người bạn để diễn tả sự tha thứ Ví dụ I’m sorry. I don’t want to lose my best friend. Please, let’s kiss and make up. Tớ xin lỗi. Tớ không muốn mất người bạn thân nhất. Hãy tha thứ cho tớ nhé! 14. To be lovey-dovey Nếu không phải là fan của PDA thể hiện tình cảm nơi công cộng, có lẽ bạn sẽ không thích những cặp đôi “to be lovey-dovey” vô tư thể hiện họ đang yêu nhau đến nhường nào. Ví dụ They’re always lovey-dovey. I’m so jealous! Trông họ thật tình tứ. Tôi ghen tị quá 15. To be the apple of someone’s eye “The apple of someone’s eye” ám chỉ người vô cùng quan trọng với ai đó. Thành ngữ này có thể được sử dụng với một người mà bạn có cảm tình hoặc với các thành viên trong gia đình đặc biệt là trẻ em và thậm chí cả đồ vật. Ví dụ You’re the apple of my eye. I love you so much. Em là người quan trọng nhất với anh. anh yêu em rất nhiều It’s clear that little Brian is the apple of her eye. Rõ ràng, bé Brian chính là báu vật của cô ấy 16. To be smitten with someone Nếu bạn “to be smitten with someone”, bạn có cảm tình hoặc bị hấp dẫn mạnh mẽ đối với người đó. Ví dụ He’s smitten with his girlfriend. It’s amazing. Anh ta quấn bạn gái như sam. Thật bất ngờ Bạn cũng có thể sử dụng thành ngữ này với động vật và người. Ví dụ I’m smitten with my new puppy. Thomas is absolutely smitten with New York. 17. To have a crush on someone Khác hẳn với nghĩa đen “to have a crush on someone” không có nghĩa là tiêu diệt hoặc bị ai đó hủy hoại. “To have a crush on someone” nghĩ về ai đó, chỉ cảm xúc lãng mạn mãnh liệt với một người mà bạn không biết rõ về người đó, thậm chí người đó không biết bạn. Ví dụ I have a crush on a guy I see every day on the bus, but we’ve never spoken. Tôi thích một người mà mình thường gặp trên xe buýt mỗi ngày nhưng chúng tôi chưa từng nói chuyện với nhau 18. To tie the knot Khi hai người “tie the knot”, nghĩa là họ kết hôn. Ví dụ Sylvia and Lukas have just tied the knot. Sylvia và Lukas vừa mới kết hôn Câu thành ngữ này được sử dụng để chỉ sự sát nhập của hai hoặc nhiều công ty McThomas and LuggerKing have decided to tie the knot after years of competition for the market. McThomas và LuggerKing quyết định sát nhập hai công ty sau bao năm cạnh tranh trên thị trường 19. To think that someone hung the moon “Think someone has hung the moonthe stars” cho rằng ai đó tài giỏi, tuyệt vời, phi thường. Ví dụ He adores her. He probably thinks she hung the moon! Anh ấy ngưỡng mộ cô ta. Anh ta thường nghĩa cô ta vô cùng tài giỏi Bạn cũng có thể sử dụng biểu hiện này khi một đứa trẻ yêu và ngưỡng mộ người lớn. Ví dụ Her little brother thinks she hung the moon and the stars. Cậu em trai bé nhỏ luôn nghĩ chị mình thật phi thường 20. To be over the moon “To be over the moon” hạnh phúc. Ví dụ I’m over the moon ever since I met you. Anh vô cùng hạnh phúc vì gặp được em Tuy nhiên, bạn không cần phải yêu hoặc thậm chí đang nói về những cảm xúc vui sướng. Ví dụ I got the job. I’m over the moon! Nhận được công việc đó. Tôi cảm thấy lâng lâng 21. To fall for someone/something hook, line and sinker “Falls for someone hook, line and sinker” ám chỉ say mê, mê đắm và yêu một cách mù quáng. Ví dụ I completely fell hook, line and sinker for him the moment I saw him. Tôi đã yêu say đắm kể từ thời khắc nhìn thấy anh ấy He told her the same old story and she fell hook, line and sinker for it once again. Hết lần này đến lần khác bị anh ta lừa dối, cô ấy vẫn yêu tha thiết 22. On the rocks “On the rocks” ám chỉ mối quan hệ đang trục trặc, gặp khó khăn. Ví dụ Our relationship has been on the rocks for three months already. I don’t know what to do. Mối quan hệ của chúng tôi đang gặp trục trặc suốt 3 tháng qua. Tôi không biết phải làm gì bây giờ. 23. To take someone’s breath away “To take someone’s breath away” ám chỉ đang yêu ai đó, bị quyến rũ, mê hoặc. Ví dụ You take my breath away every day. Em không ngừng mê hoặc anh mỗi ngày Bạn có dùng thành ngữ này để chỉ sự kinh ngạc, điều diễn ra quá sức tưởng tượng đến mức phải nín thở. His paintings always take my breath away. Những bức tranh của anh ấy luôn làm tôi kinh ngạc 24. To pop the question “Pops the question” đề nghị ai đó tiến tới hôn nhân, yêu cầu ai đó kết hôn cùng Ví dụ He was totally surprised when she popped the question! Anh ta vô cùng ngạc nhiên khi cô ấy đề nghị kết hôn 25. To be in a love triangle “A love triangle” là một mối quan hệ ba người, tình tay ba. Ví dụ, người A yêu người B, nhưng người B yêu người C và người C yêu người A… I would never accept being in a love triangle. Tôi chẳng bao giờ chấp nhận một cuộc tình tay ba 26. To only have eyes for someone “To only have eyes for someone” chỉ dành ánh mắt cho ai, toàn tâm toàn ý với ai Ví dụ Tom only has eyes for you. You’re such a lucky girl! Tom chỉ yêu mỗi mình cậu. Cậu thật may mắn đó! 28. To be the love of someone’s life “To be the love of someone’s life” yêu ai đó hết lòng, yêu bằng cả trái tim, là người quan trọng nhất trong cuộc đời. Ví dụ Marissa, you’re the love of my life. I love you. Marissa, em là tình yêu của đời anh. Anh yêu em Kết luận Như bạn đã thấy, thành ngữ về chủ đề tình yêu là nhiều vô kể, với đủ sắc thái cảm xúc. Trong các cuộc giao tiếp tiếng Anh hàng ngày của người bản địa, thành ngữ xuất hiện như một phần tất yếu. Bạn càng học được nhiều thành ngữ, bạn càng có thể diễn đạt tốt hơn tất cả các tình huống thực tế. Chúc bạn thành công! Xem thêm Luyện thi IELTS ở đâu tốt để giúp bạn vượt qua bài thi IELTS Speaking Mười mẹo giúp bạn học từ vựng tiếng Anh giao tiếp cấp tốc
Tải về bản PDF Tải về bản PDF Thông thường, việc nói “Anh yêu em/Em yêu anh” khi mới bắt đầu mối quan hệ sẽ khiến bạn lo sợ. Nếu bạn có tình cảm thật sự dành cho người ấy, hãy bày tỏ điều đó vào đúng thời điểm. Cứ mạnh dạn nói lời yêu thương kể cả khi bạn lo sợ tình cảm của mình không được đáp lại. Có thể khi bạn có cảm tình sâu đậm với người ấy, họ cũng dành tình cảm tương tự cho bạn. Bằng sự chuẩn bị và sự tự tin, bạn có thể dễ dàng thổ lộ tình cảm của mình! 1 Tỏ tình khi bạn cảm nhận được tình cảm của người ấy. Để xác định điều này, bạn cần chú ý các dấu hiệu trong cách họ hành xử. Khi biết thêm về người ấy, bạn cũng biết cảm xúc mà người ấy dành cho mình. Nếu người ấy khiến bạn mỉm cười, nhìn bạn bằng ánh mắt trìu mến và đặt bạn vào vị trí ưu tiên trong cuộc sống, có thể họ cũng có tình cảm sâu đậm với bạn.[1] Ví dụ, nếu người ấy nấu cho bạn món ăn yêu thích hoặc thường xuyên chia sẻ cảm xúc với bạn, đó có thể là dấu hiệu cho biết họ yêu bạn. 2 Bày tỏ cảm xúc vào đúng thời điểm. Trực giác giúp bạn biết thời điểm thích hợp để nói ra cảm xúc của mình. Bạn sẽ biết khi thời khắc đã điểm, dựa trên ngôn ngữ cơ thể của người ấy và cảm xúc của bạn.[2] Dấu hiệu cho biết bạn thật sự yêu người ấy là dành cho họ sự ưu tiên, không tìm kiếm người mới, và cảm nhận sự kết nối lẫn sức hút mạnh mẽ. 3 Tránh nói “Anh yêu em/Em yêu anh” khi mối quan hệ chỉ mới bắt đầu. Bạn chỉ nên bày tỏ cảm xúc với người ấy khi bạn đã dành thời gian ở cạnh và biết thêm về họ. Khoảng thời gian đó sẽ phụ thuộc vào từng mối quan hệ. Nhìn chung, bạn hãy nói lời yêu thương khi biết tình cảm mà bạn dành cho họ là chân thành và thật lòng.[3] Thật tuyệt khi bạn có cảm xúc mạnh mẽ với người ấy sau vài buổi hẹn hò, nhưng hãy tránh thổ lộ tình cảm cho đến khi bạn chắc chắn. Như vậy, tình cảm của bạn sẽ không có vẻ tuyệt vọng hoặc đeo bám. Sarah Schewitz, PsyD là nhà tâm lý học với hơn 10 năm kinh nghiệm giúp các cặp vợ chồng và cá nhân cải thiện và thay đổi thói quen trong tình yêu và các mối quan hệ. Cô là người sáng lập của Couples Learn, một phong khám tâm lý học trực tuyến. Mỗi người sẽ nói 'Anh yêu em/Em yêu anh' vào những thời điểm khác nhau. Nếu bạn chỉ muốn cho người ấy biết cảm xúc của mình mà không quan tâm đến việc họ có đáp lại hay không, bạn có thể bày tỏ tình cảm vào bất kỳ lúc nào. Nếu bạn mong nhận được lời yêu thương từ họ, hãy chờ thêm vài tháng. 4 Đừng để người ấy chờ quá lâu. Nếu bạn kéo dài thời gian trước khi tỏ tình, khoảng cách giữa hai người sẽ ngày một lớn hơn, và dần dần người ấy sẽ chọn từ bỏ mối quan hệ đó. Có thể họ hiểu lầm và nghĩ rằng bạn không có tình cảm với họ khi mải vẫn chưa nhận được lời yêu thương từ bạn.[4] Hãy cứ tự tin thay vì sợ hãi việc bày tỏ tình cảm. Đừng để bạn phải hối hận về sau. Quảng cáo 1 Động viên bản thân trước khi nói “Anh yêu em/Em yêu anh”. Nếu bạn lo lắng về việc bày tỏ tình cảm với người ấy, hãy hít thở sâu và cổ vũ chính mình. Bạn có thể nói “Mình làm được mà” hoặc lời lẽ tương tự. Nhớ lại toàn bộ lý do khiến bạn yêu người ấy để quên đi nỗi sợ bị từ chối. Bằng việc trấn an, bạn sẽ có được sự tự tin và cảm giác chắc chắn khi tỏ tình. Bạn cũng có thể tự nhủ “Nếu đó là tình yêu của đời mình thì mọi chuyện sẽ ổn thôi”. 2 Trực tiếp thổ lộ tình cảm với người ấy. Thời khắc bạn nói ra cảm xúc của mình là cột mốc thay đổi mạnh mẽ trong mối quan hệ, vì cả hai chính thức gắn bó bên nhau. Vì lẽ đó, bạn cần quan sát biểu cảm gương mặt và phản ứng của họ khi bạn tỏ tình. Nếu có thể, tốt nhất bạn nên gặp trực tiếp người ấy để nói lời yêu thương. Nếu không thể, bạn có thể thực hiện cuộc gọi video.[5] Tránh tỏ tình qua tin nhắn hoặc cuộc gọi thoại. Bạn không thể đọc được biểu cảm của người ấy khi tỏ tình qua hình thức truyền thông gián tiếp. 3 Chọn địa điểm riêng tư để việc tỏ tình trở nên thân mật và đặc biệt. Tránh thổ lộ tình cảm trước mặt nhiều người. Việc này sẽ khiến người ấy cảm thấy áp lực và trở nên bối rối. Thay vào đó, hãy chọn nói ra cảm xúc của bạn vào thời điểm lãng mạn và thân mật, chẳng hạn như khi cả hai cùng nhau ăn tối hoặc dành thời gian bên nhau.[6] Ví dụ, bạn có thể âu yếm người ấy trên ghế sô-pha và nhìn vào mắt họ trước khi thổ lộ tình cảm. Mặc dù rượu góp phần tạo nên sự lãng mạn và tạo cảm hứng, nhưng bạn cần tránh tỏ tình khi đang say. Có thể bạn sẽ không nói chính xác những gì mình nghĩ. Đảm bảo bạn và người ấy đều không bận rộn hoặc bị phân tâm vào thời điểm bạn chọn tỏ tình. Căng thẳng trong công việc hoặc học tập có thể ảnh hưởng đến tâm trạng của họ. Nếu bạn tỏ tình với người ấy ở nơi công cộng, hãy nhớ nói nhỏ. Bạn có thể thì thầm “Anh yêu em/Em yêu anh” vào tai họ để thể hiện tình cảm một cách thân mật. 4 Nói "Anh yêu em/Em yêu anh" đúng lúc. Thời khắc hoàn hảo để thổ lộ cảm xúc sẽ tùy thuộc vào từng tình huống. Khi bạn cảm thấy thời điểm thích hợp đã đến, hãy cứ mạnh dạn nói ra điều bạn muốn nói một cách rõ ràng. Bạn chỉ cần nói “Anh yêu em/Em yêu anh” bằng giọng chân thành và ấm áp. Bạn có thể bày tỏ cảm xúc khi hai người cùng ăn tối, đi dã ngoại hoặc ngắm sao.[7] Nếu không muốn nói “Anh yêu em/Em yêu anh”, bạn có thể nói “Em thật sự rất quan tâm đến anh” hoặc “Tình cảm của anh chỉ dành cho một mình em thôi”. Đây là những cách thổ lộ tình cảm mà không cần dùng đến chữ “yêu”. Một vài gợi ý khác là “Anh là người yêu tuyệt vời nhất trên đời” và “Mỗi ngày anh lại yêu em nhiều hơn”. 5 Chuẩn bị tinh thần cho việc không được đáp lại. Bạn không thể kiểm soát phản ứng của người ấy. Chắc hẳn bạn muốn họ nói “Anh cũng yêu em/Em cũng yêu anh”, nhưng đây là điều mà không ai có thể đảm bảo. Nếu bạn có tình cảm sâu đậm dành cho người ấy, hãy cho họ biết điều đó, bất kể họ có phản ứng thế nào đi chăng nữa. Việc người ấy không ngay lập tức đáp lại lời tỏ tình của bạn không có nghĩa là họ không có tình cảm sâu sắc với bạn. Chỉ là họ cần thời gian để nhìn lại mối quan hệ và nghĩ về cảm xúc của họ. Quảng cáo 1 Thường xuyên khen ngợi người ấy. Bạn có thể nói “Bộ trang phục này rất hợp với anh” hoặc “Em cột tóc thế này trông rất xinh”. Đây là cách cho người ấy biết bạn luôn quan tâm và chú ý đến họ.[8] Bạn cũng có thể nói họ tuyệt vời thế nào và bạn rất cảm kích khi được ở cạnh người yêu như thế. Chẳng hạn như bạn sẽ nói “Em là điều quý giá nhất anh có trong đời” và “Anh không biết cuộc sống của mình sẽ ra sao nếu không có em”.[9] 2 Là chỗ dựa tinh thần của người ấy. Nói với người ấy rằng “Anh/em luôn ở đây” để họ biết bạn luôn quan tâm. Bạn cần cho người ấy hiểu rằng bạn sẽ bên họ khi vui lẫn khi buồn, và bạn sẵn sàng lắng nghe, động viên. Như vậy, người ấy có thể tin tưởng bạn và tình cảm của hai bạn sẽ ngày càng sâu đậm hơn.[10] Hỏi thăm khi người ấy trải qua một ngày khó khăn. Hãy chú tâm lắng nghe khi họ nói và nói lời động viên như “Em rất tuyệt. Đừng lo về những gì cấp trên nghĩ”. Bạn cũng có thể đùa một chút để giúp họ thoải mái hơn. 3 Ân cần và chu đáo. Đây là một cách tuyệt vời để thể hiện tình cảm dành cho họ. Bạn có thể thực hiện những việc như tặng hoa, gửi lời nhắn yêu thương hoặc tặng một món quà nhỏ mà không cần chờ đến dịp đặc biệt. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể nấu món ăn mà họ yêu thích hoặc chuẩn bị bữa sáng. Một hành động tử tế khác là luôn mở cửa cho bạn gái. 4 Dành cho người ấy những cái chạm tay thân mật. Cử chỉ chạm nhẹ nhàng cũng nói lên sự quan tâm và yêu thương của bạn. Khi trò chuyện, hãy chạm nhẹ vào cánh tay, bàn tay hoặc đầu gối của người ấy. Nắm tay khi hai bạn đi dạo và chạm vào lưng một cách thân mật. Đây là những cử chỉ nhỏ nhặt giúp bạn thể hiện tình yêu.[11] Đừng quên ôm và hôn khi tạm biệt người ấy. Quảng cáo Lời khuyên Nếu bạn không chắc chắn về cảm xúc của mình, đừng bày tỏ tình cảm với ai đó chỉ để khiến họ vui. Bạn cần chân thành và thật lòng khi thể hiện tình cảm. Mỗi người có cách thể hiện tình cảm khác nhau. Hãy tìm hiểu tính cách của người ấy và trân trọng cách họ thể hiện tình cảm. Một cách giúp bạn thoải mái nói ra từ “yêu” là thỉnh thoảng đề cập điều gì đó mà bạn yêu thích ở người ấy. Ví dụ, “Anh yêu đôi mắt nâu của em” trong khi bạn nháy mắt một cách tinh nghịch hoặc “Anh yêu tất cả những món em nấu”. Đây là những trường hợp giúp bạn thỏ lộ tình cảm một cách thoải mái. Một vài cô nàng ít nhất những là những người có tính cách thoải mái sẽ đáp lại cử chỉ yêu thương nhưng có thể họ vẫn chưa sẵn sàng để đón nhận ba từ quyền lực "Anh yêu em". Mặc dù vậy, đó vẫn khởi đầu tốt. Cảnh báo Đừng nói lời yêu thương chỉ để che đậy sai lầm của bạn hoặc để giải quyết mâu thuẫn. Thay vào đó, bạn nên học cách xin lỗi. Thận trọng khi nói “Anh yêu em/Em yêu anh” trong lúc làm “chuyện ấy”. Đôi khi đây là cơ hội tuyệt vời để thổ lộ tình cảm, nhưng lời lẽ của bạn có thể sẽ thiếu chân thật khi cả hai đang đắm chìm trong ngọn lửa đam mê. Đừng quên dành cho người ấy sự ân cần và chu đáo sau khi bạn nói lời có cánh. Về bài wikiHow này Trang này đã được đọc lần. Bài viết này đã giúp ích cho bạn?
Nó là không gì cả Họ không biết yêu thương là gì. It was nothing; they don't know what love is. “Lẽ thật Kinh Thánh giúp tôi biết yêu thương kẻ thù”, anh Hortêncio giải thích. “Bible truth helped me to have love for my enemy,” Hortêncio explains. Thứ nhất, loài người có khả năng hiểu biết, yêu thương và kính sợ Đấng Tạo Hóa. First, humans are capable of knowing, loving, and respecting the Creator. Nhờ Kinh Thánh, nhiều người biết yêu thương gia đình một cách bất vị kỷ. People learn to show unselfish love for their family. Đó là lý tưởng của một gia đình biết yêu thương nhau. That is the ideal of a loving family. Chúng ta biết yêu thương vì được dựng nên theo hình ảnh Ngài. We love because we are made in his image. và những đứa trẻ Ngài đã giúp biết yêu thương và tin cậy; and children He helped to love and to trust; Phúc âm đã dạy cho Roger biết yêu thương. It has taught Roger to love. Đường ngài cho mình biết yêu thương tha thiết hết lòng, Will help us to have true tender affection, 15 phút Dạy người mới biết yêu thương Đức Chúa Trời và người lân cận. 15 min Help New Ones Learn to Love God and Neighbor. Cha mẹ dạy con biết yêu thương qua gương mẫu Parents teach their children love by example Và làm thế nào các bậc cha mẹ có thể dạy con cái biết yêu thương? And how can parents teach love to their children? Tôi chỉ biết là họ biết yêu thương... I just know they know love... 1 Giăng 311, 12 Điều trọng yếu là chúng ta phải biết yêu thương lẫn nhau. 1 John 311, 12 It is vital that we learn to love one another. Chính cho những tâm hồn biết yêu thương chân lý này mà những vĩ nhân đã sống. life, ; minds that these great ones have lived. Ngài không biết yêu thương. There is no love in you. Nếu không phát triển lòng thấu cảm, trẻ sẽ không thể nào biết yêu thương”. Without a well-developed sense of empathy, the child will not be able to love.” Tôi đã biết yêu thương Đức Chúa Trời. I learned to love God. 13 Một trong những điều tuyệt diệu về loài người là khả năng biết yêu thương. 13 One of the best things about humans is our ability to love. Ngài biết, yêu thương và muốn chúng ta được thành công và trở về với Ngài. He knows us, loves us, and wants us to succeed and return to Him. Khi học Kinh Thánh, tôi thấy mình chưa bao giờ thật sự biết yêu thương là gì. As I studied the Bible, I began to feel that I had never really known love. * Vợ chồng của họ đều biết yêu thương con cái mình, GCốp 37. * Their husbands and their wives love their children, Jacob 37. Anh nghĩ rằng đây là tình yêu thương, và anh ta muốn là một người biết yêu thương. He thought this was loving, and he wanted to be a loving person. ĐỨA BÉ HỌC BIẾT YÊU THƯƠNG VÌ ĐƯỢC YÊU THƯƠNG LEARNING LOVE BY BEING LOVED
cherish, loving, to affect là các bản dịch hàng đầu của "yêu thương" thành Tiếng Anh. Câu dịch mẫu Tôi yêu thương và trân quý cái chữ phận sự cao nhã đó. ↔ I love, I cherish the noble word duty. Tôi yêu thương và trân quý cái chữ phận sự cao nhã đó. I love, I cherish the noble word duty. Nó học biết yêu thương bởi nó được yêu thương, bởi nó nhìn thấy sự yêu thương được bày tỏ làm gương cho nó. It learns to love by being loved, by exposure to examples of love. ● Quyền được yêu thương, trìu mến, thông cảm và bảo đảm về vật chất. ● The right to affection, love, and understanding and to material security. Ngược chiều yêu thương affection heart disfavour affection lovingness affectionateness disfavour affectionate beloved loving declarations of love Đức Chúa Trời là sự yêu thương. GOD is love. 3 “Tôi yêu thương Cha”. 3 “I love the Father.” 16 Chúng ta không chỉ bày tỏ tình yêu thương đối với những người sống trong cùng khu vực. 16 Our showing love to others is not limited to those who may live in our vicinity. Đáng mừng thay, sự yêu thương cũng là đức tính nổi bật nhất của Ngài. Happily, love is also his dominant quality. Những anh em ở đó đã yêu thương Phao-lô biết dường nào! What love these brothers had for Paul! Mọi vật Đức Chúa Trời tạo ra đều chứng tỏ tình yêu thương của Ngài. Everything that God has done shows his love. Ngươi nghĩ chỉ mình ngươi được mẫu hậu yêu thương à? You think you alone were loved of Mother? 4 Điều này không có nghĩa là chúng ta yêu thương nhau chỉ vì bổn phận. 4 This is not to say that we are to love one another merely out of a sense of duty. 6 “Có tình yêu thương giữa anh em” 6 “Have Love Among Yourselves” + 6 Tình yêu thương nghĩa là chúng ta tiếp tục bước theo các điều răn ngài. + 6 And this is what love means, that we go on walking according to his commandments. “Có nhiều người mà tôi đã yêu thương với tấm lòng yêu thương mãnh liệt hơn cái chết. “There are many souls whom I have loved stronger than death. “Trước đây tôi đã từng yêu thương nhưng không hiểu lý do. “I had loved before, but I knew not why. Vun trồng tình yêu thương Đức Giê-hô-va trong lòng con cái Implanting Love for Jehovah in Our Children’s Hearts Từ này gợi ý một sự gia tăng tình yêu thương vốn đã có. The word suggests an increase of a love that was already there. Vai trò của tình yêu thương The Role of Love Đức Giê-hô-va cai trị bằng tình yêu thương chứ không bằng sự đàn áp. Jehovah ruled through love, not terror. Chúng tôi yêu thương và ngưỡng mộ các chị em. We love and admire you. 20 Chúa Giê-su nêu gương tuyệt vời trong việc thể hiện tình yêu thương với người khác. 20 Jesus provided us with a marvelous example in showing love to others. Tình yêu thương ấy khẳng định giá trị của chúng ta. Such love affirms that we have value. Chúa yêu thương các em và tôi biết các em cũng yêu mến Ngài. The Lord loves you, and I know you love Him. Tình yêu thương của Đức Chúa Trời tất thắng God’s Love Must Prevail 6 Phao-lô thêm rằng tình yêu thương “chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu-ngạo”. 6 Paul adds that love “does not brag, does not get puffed up.” Xem khung “Thể hiện tình yêu thương qua hành động”, nơi trang 6, 7. See the box “Love in Action,” on pages 6-7. Tình yêu thương “trông-cậy [“hy vọng”, NW] mọi sự”. Love “hopes all things.” Thay thế sự ghen ghét bằng tình yêu thương Replace Hatred With Love
1-3. Khi chúng ta noi gương Đức Giê-hô-va biểu hiện tình yêu thương, kết quả là gì? “BAN CHO thì có phước hơn là nhận-lãnh”. Công-vụ 2035 Những lời nói đó của Chúa Giê-su nhấn mạnh đến một sự thật quan trọng Tình yêu thương vị tha mang lại phần thưởng. Dù được nhiều hạnh phúc khi tiếp nhận tình yêu thương nhưng hạnh phúc hơn khi ban cho, tức biểu hiện, tình yêu thương đối với người khác. 2 Không ai hiểu rõ điều này bằng Cha chúng ta ở trên trời. Như chúng ta thấy trong những chương trước, Đức Giê-hô-va là gương mẫu tột bậc về tình yêu thương. Không ai biểu hiện tình yêu thương lớn hơn hoặc trong thời gian dài hơn Ngài. Vậy, Đức Giê-hô-va được gọi là “Đức Chúa Trời hạnh-phước” thì có gì đáng ngạc nhiên không?—1 Ti-mô-thê 111. 3 Đức Chúa Trời yêu thương muốn chúng ta gắng sức noi gương Ngài, nhất là trong việc biểu hiện tình yêu thương. Ê-phê-sô 51, 2 nói với chúng ta “Hãy trở nên kẻ bắt chước Đức Chúa Trời như con-cái rất yêu-dấu của Ngài; hãy bước đi trong sự yêu-thương”. Khi noi gương Đức Giê-hô-va trong việc biểu hiện tình yêu thương, chúng ta cảm nghiệm được niềm hạnh phúc lớn hơn từ việc ban cho. Chúng ta cũng mãn nguyện nhờ biết mình làm Đức Giê-hô-va hài lòng, vì Lời Ngài thúc giục chúng ta “yêu-thương nhau”. Rô-ma 138 Nhưng chúng ta phải “bước đi trong sự yêu-thương” vì những lý do khác nữa. Tại sao tình yêu thương là thiết yếu? 4, 5. Tại sao việc chúng ta biểu hiện tình yêu thương quên mình đối với anh em cùng đức tin là quan trọng? 4 Tại sao việc chúng ta biểu hiện tình yêu thương đối với anh em cùng đức tin là quan trọng? Nói một cách đơn giản, tình yêu thương là điều cốt yếu của đạo thật Đấng Christ. Không có tình yêu thương chúng ta không thể có quan hệ gắn bó với anh em tín đồ Đấng Christ, và quan trọng hơn, chúng ta chẳng có chút giá trị gì trước mắt Đức Giê-hô-va. Hãy xem Lời Đức Chúa Trời nhấn mạnh những lẽ thật này như thế nào. 5 Vào đêm cuối sống trên đất, Chúa Giê-su phán với các môn đồ “Ta ban cho các ngươi một điều-răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy. Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên-hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn-đồ ta”. Giăng 1334, 35 “Như ta đã yêu các ngươi thể nào”—đúng vậy, chúng ta được lệnh phải biểu lộ loại tình yêu thương mà Chúa Giê-su đã biểu hiện. Trong Chương 29, chúng ta đã nhận biết rằng Chúa Giê-su đã nêu gương mẫu tuyệt vời trong việc biểu hiện tình yêu thương vị tha, ngài đặt nhu cầu và lợi ích của người khác lên trên chính bản thân. Chúng ta cũng phải biểu hiện tình yêu thương vị tha, và thể hiện rõ ràng đến độ tình yêu thương ấy hiển nhiên ngay cả đối với những người ngoài hội thánh tín đồ Đấng Christ. Thật thế, tình yêu thương quên mình vì anh em là đặc điểm khiến chúng ta được nhận biết là môn đồ thật của Đấng Christ. 6, 7. a Làm sao chúng ta biết rằng Lời Đức Giê-hô-va đánh giá cao việc biểu hiện tình yêu thương? b Lời của Phao-lô ghi nơi 1 Cô-rinh-tô 134-8 tập trung vào khía cạnh nào của tình yêu thương? 6 Nếu lòng chúng ta thiếu tình yêu thương thì sao? Sứ đồ Phao-lô nói “Nếu không có tình yêu-thương, thì tôi chỉ như đồng kêu lên hay là chập-chỏa vang tiếng”. 1 Cô-rinh-tô 131 Chập chỏa, tức chũm chọe, phát ra tiếng chan chát khi va vào nhau. Còn tiếng đồng kêu như thế nào? Các bản dịch khác nói “thanh la phèng phèng” hay “chuông đồng inh ỏi”. Thật là những minh họa thích hợp thay! Người không có tình yêu thương giống như một nhạc cụ phát ra âm thanh ầm ĩ, chói tai khiến người ta tránh xa thay vì đến gần. Người như thế làm sao có được mối quan hệ mật thiết với người khác? Phao-lô cũng nói “Dầu tôi có cả đức-tin đến nỗi dời núi được, nhưng không có tình yêu-thương, thì tôi chẳng ra gì”. 1 Cô-rinh-tô 132 Hãy thử tưởng tượng, một người không có tình yêu thương là “người vô dụng” bất luận y có khả năng thực hiện bất cứ điều gì! Bản Diễn Ý Chẳng phải là Lời Đức Giê-hô-va rõ ràng đánh giá cao việc biểu hiện tình yêu thương sao? 7 Tuy nhiên, chúng ta có thể biểu hiện đức tính này như thế nào trong cách đối xử với người khác? Để trả lời câu hỏi đó, chúng ta hãy xem xét những lời của Phao-lô nơi 1 Cô-rinh-tô 134-8. Trọng tâm những câu này không phải là tình yêu thương của Đức Chúa Trời đối với chúng ta, cũng không phải tình yêu thương của chúng ta đối với Đức Chúa Trời. Thay vì vậy, Phao-lô tập trung vào cách chúng ta phải biểu hiện tình yêu thương đối với nhau. Ông miêu tả thế nào là tình yêu thương và thế nào không phải là tình yêu thương. Thế nào là tình yêu thương? 8. Sự nhịn nhục giúp chúng ta như thế nào khi tiếp xúc với người khác? 8 “Tình yêu-thương hay nhịn-nhục”. Nhịn nhục có nghĩa là kiên nhẫn chịu đựng người khác. Cô-lô-se 313 Chẳng phải chúng ta cần kiên nhẫn như thế sao? Là người bất toàn sánh vai phụng sự Đức Chúa Trời, chúng ta nên thực tế nhận biết thỉnh thoảng anh em tín đồ Đấng Christ có thể làm chúng ta bực mình và ngược lại. Nhưng tính kiên nhẫn và nhẫn nhịn giúp chúng ta xử trí những va chạm nhỏ nhặt khi tiếp xúc với người khác—mà không làm xáo động sự hòa thuận trong hội thánh. 9. Chúng ta có thể biểu lộ lòng tử tế với người khác bằng những cách nào? 9 “Tình yêu-thương hay nhân-từ”. Lòng nhân từ được thể hiện qua hành động giúp đỡ và lời nói ân cần. Tình yêu thương thôi thúc chúng ta tìm cách biểu hiện lòng tử tế, nhất là với những người rất cần sự giúp đỡ. Chẳng hạn, một anh lớn tuổi có thể cô đơn, cần được viếng thăm và khích lệ. Một người mẹ đơn chiếc hoặc một chị sống trong gia đình không đồng nhất về tôn giáo có thể cần được nâng đỡ. Một người đau yếu hoặc đang đối đầu với nghịch cảnh có thể cần nghe những lời tử tế của một người bạn trung thành. Châm-ngôn 1225; 1717 Chủ động biểu lộ lòng tử tế bằng những cách ấy chứng tỏ tình yêu thương của chúng ta là chân thật.—2 Cô-rinh-tô 88. 10. Tình yêu thương giúp chúng ta ủng hộ lẽ thật và nói sự thật như thế nào, dù cho việc ấy không dễ dàng? 10 “Tình yêu thương... vui trong lẽ thật”. Một bản dịch khác nói “Tình yêu thương... vui mừng đứng về phía lẽ thật”. Tình yêu thương thôi thúc chúng ta ủng hộ lẽ thật và “lấy điều thật nói cùng kẻ lân-cận mình”. Xa-cha-ri 816 Chẳng hạn, nếu một người thân dính líu vào trọng tội, tình yêu thương đối với Đức Giê-hô-va—và đối với người lầm lỗi—sẽ giúp chúng ta trung thành với những tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời thay vì tìm cách giấu giếm, bào chữa, hoặc thậm chí nói dối về chuyện sai trái. Công nhận rằng đối diện với sự thật có thể khó. Nhưng quan tâm đến lợi ích tốt nhất của người thân, chúng ta muốn người đó tiếp nhận và đáp lại tình yêu thương của Đức Chúa Trời, được biểu hiện qua việc sửa phạt. Châm-ngôn 311, 12 Là những tín đồ Đấng Christ đầy yêu thương, chúng ta cũng muốn “ăn-ở trọn-lành trong mọi sự”.—Hê-bơ-rơ 1318. 11. Vì tình yêu thương “hay dung-thứ mọi sự”, chúng ta phải cố gắng làm gì trước những sai sót của anh em đồng đức tin? 11 “Tình yêu-thương hay dung-thứ mọi sự”. Câu này có nghĩa đen là “tình yêu thương che đậy mọi việc”. Kingdom Interlinear Nơi 1 Phi-e-rơ 48, sứ đồ Phi-e-rơ viết “Sự yêu-thương che-đậy vô-số tội-lỗi”. Thật vậy, tín đồ Đấng Christ được tình yêu thương hướng dẫn không hăm hở vạch ra những bất toàn, sai sót của anh em mình. Trong nhiều trường hợp, các lỗi lầm và sai sót của anh em đồng đức tin là nhỏ nhặt và có thể được che lấp bởi tình yêu thương.—Châm-ngôn 1012; 179. Tình yêu thương thôi thúc chúng ta bày tỏ lòng tin cậy anh em 12. Sứ đồ Phao-lô cho thấy ông tin điều tốt nhất về Phi-lê-môn như thế nào, và chúng ta có thể học được điều gì từ gương của Phao-lô? 12 “Tình yêu-thương... tin mọi sự”. Bản dịch của Moffatt nói rằng tình yêu thương “luôn sốt sắng tin điều tốt nhất”. Chúng ta không nghi ngờ vô căn cứ, đặt nghi vấn về mọi động cơ của những anh em cùng đức tin. Tình yêu thương giúp chúng ta “tin điều tốt nhất” về anh em và tin tưởng họ. * Hãy lưu ý một gương trong lá thư Phao-lô gửi cho Phi-lê-môn. Ô-nê-sim là người nô lệ trốn chủ, sau trở thành tín đồ Đấng Christ. Phao-lô viết thư nhằm khuyến khích Phi-lê-môn ân cần tiếp đón Ô-nê-sim trở về. Thay vì cố ép buộc Phi-lê-môn, Phao-lô đã thỉnh cầu dựa trên tình yêu thương. Ông bày tỏ lòng tin chắc Phi-lê-môn sẽ làm điều đúng khi nói rằng “Tôi viết cho anh, đã tin chắc anh hay vâng lời, biết anh sẽ làm quá sự tôi nói đây”. Câu 21 Khi tình yêu thương thôi thúc chúng ta bày tỏ lòng tin tưởng như thế nơi các anh em, chúng ta giúp họ bộc lộ những đức tính tốt đẹp nhất. 13. Bằng cách nào có thể cho thấy chúng ta hy vọng điều tốt nhất cho anh em? 13 “Tình yêu-thương... trông-cậy mọi sự [“hy vọng tất cả”, “BDY”]”. Tuy tin tưởng người khác nhưng tình yêu thương cũng hy vọng. Tình yêu thương thôi thúc chúng ta hy vọng điều tốt nhất cho anh em. Thí dụ, nếu một anh “tình-cờ phạm lỗi gì”, chúng ta hy vọng anh ấy sẽ hưởng ứng nỗ lực đầy yêu thương nhằm sửa anh ấy lại. Ga-la-ti 61 Chúng ta cũng hy vọng rằng những ai yếu đức tin sẽ hồi phục. Chúng ta kiên nhẫn với những người như thế, hết sức giúp đức tin họ trở nên mạnh. Rô-ma 151; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 514 Ngay cả khi một người thân bị lầm lạc, chúng ta cũng tiếp tục hy vọng rằng ngày nào đó người ấy sẽ tỉnh ngộ và trở lại với Đức Giê-hô-va, giống như người con hoang đàng trong minh họa của Chúa Giê-su.—Lu-ca 1517, 18. 14. Tính chịu đựng của chúng ta có thể bị thử thách qua những cách nào trong hội thánh, và tình yêu thương sẽ giúp chúng ta phản ứng ra sao? 14 “Tình yêu-thương... nín-chịu mọi sự”. Tính nín chịu, tức chịu đựng, giúp chúng ta đứng vững trước những khó khăn hoặc những điều làm mình thất vọng. Những điều thử thách tính chịu đựng không chỉ xuất phát từ bên ngoài hội thánh. Có những lúc chúng ta có thể bị thử thách ngay trong hội thánh. Vì bất toàn, có khi anh em làm cho chúng ta thất vọng. Một lời nói thiếu suy nghĩ có thể làm tổn thương tình cảm chúng ta. Châm-ngôn 1218 Có lẽ một vấn đề trong hội thánh không được xử lý theo cách chúng ta muốn. Cách xử sự của một anh có uy tín có thể khiến chúng ta bực bội, và tự hỏi Làm sao một tín đồ Đấng Christ lại có thể hành động như thế?’ Khi đối diện những tình huống như thế, chúng ta sẽ bỏ hội thánh và ngừng phụng sự Đức Giê-hô-va chăng? Không, nếu như chúng ta có tình yêu thương! Vâng, tình yêu thương không để cho chúng ta mất sáng suốt vì lỗi lầm của một anh, đến nỗi không nhận thấy cái tốt của anh ấy hoặc của hội thánh nói chung. Tình yêu thương giúp chúng ta tiếp tục trung thành với Đức Chúa Trời và ủng hộ hội thánh, bất kể lời nói hay hành động nào của một người bất toàn.—Thi-thiên 119165. Thế nào không phải là tình yêu thương? 15. Tính ghen tị là gì, và làm thế nào tình yêu thương giúp chúng ta tránh được cảm xúc tai hại này? 15 “Tình yêu-thương chẳng ghen-tị”. Tính ghen tị có thể khiến chúng ta đố kỵ vì những gì người khác có—tài sản, đặc ân hoặc tài năng. Tính ghen tị là một cảm xúc ích kỷ, tai hại, và nếu không kiềm chế có thể xáo động sự hòa thuận của hội thánh. Điều gì sẽ giúp chúng ta chống lại khuynh hướng hay ghen tị? Ấy là tình yêu thương. Đức tính quý báu này có thể giúp chúng ta vui mừng cùng những người dường như có các ưu điểm nào đó mà chính chúng ta không có. Rô-ma 1215 Khi người khác được khen ngợi về khả năng hiếm có hoặc một thành tựu nổi bật nào đó, nếu có tình yêu thương chúng ta không nghĩ rằng mình bị sỉ nhục. 16. Nếu thật sự yêu thương anh em, tại sao chúng ta tránh khoe khoang về những điều đang làm trong việc phụng sự Đức Giê-hô-va? 16 “Tình yêu-thương... chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu-ngạo”. Tình yêu thương kiềm chế không cho chúng ta khoe khoang tài năng hoặc những thành quả của mình. Nếu thật sự yêu thương anh em, làm sao chúng ta có thể thường xuyên khoe khoang thành quả trong thánh chức hoặc những đặc ân trong hội thánh? Khoe khoang như thế có thể làm nản lòng người khác, khiến họ cảm thấy thua kém. Tình yêu thương không cho phép chúng ta khoe khoang về những đặc ân mà Đức Chúa Trời ban cho chúng ta trong thánh chức. 1 Cô-rinh-tô 35-9 Suy cho cùng, tình yêu thương “chẳng lên mình kiêu-ngạo”, hay theo bản dịch khác, tình yêu thương không “nuôi dưỡng những ý nghĩ tự cao về tầm quan trọng của riêng mình”. Tình yêu thương không để cho chúng ta có quan điểm tự cao.—Rô-ma 123. 17. Tình yêu thương thôi thúc chúng ta biểu lộ sự quan tâm nào đến người khác, và do đó chúng ta sẽ tránh loại hạnh kiểm nào? 17 “Tình yêu-thương... chẳng làm điều trái phép”. Một người cư xử trái phép khi hành động thiếu tư cách hoặc xúc phạm đến người khác. Cư xử như thế là thiếu yêu thương, vì điều đó bộc lộ thái độ hoàn toàn không quan tâm đến cảm xúc và hạnh phúc của người khác. Ngược lại, tình yêu thương bao hàm lòng̣ tử tế thôi thúc chúng ta tỏ ra quan tâm đến người khác. Tình yêu thương phát huy phong cách cư xử lịch sự, hạnh kiểm đẹp lòng Đức Chúa Trời và lòng tôn trọng đối với anh em cùng đức tin. Do đó, tình yêu thương sẽ không cho phép chúng ta phạm những hành vi đáng xấu hổ—thật vậy, bất cứ hành vi nào gây sửng sốt hoặc xúc phạm đến anh em tín đồ Đấng Christ.—Ê-phê-sô 53, 4. 18. Tại sao một người có tình yêu thương không đòi hỏi mọi việc phải theo ý mình? 18 “Tình yêu-thương... chẳng kiếm tư-lợi”. Một bản dịch khác nói “Tình yêu thương không khăng khăng theo ý mình”. Người có tình yêu thương không đòi hỏi mọi việc phải theo ý mình, như thể ý kiến mình luôn luôn đúng. Người ấy không thao túng người khác, dùng khả năng thuyết phục để áp đảo những người có quan điểm khác mình. Tính cố chấp như thế bộc lộ một mức độ kiêu ngạo, và Kinh Thánh nói “Sự kiêu-ngạo đi trước, sự bại-hoại theo sau”. Châm-ngôn 1618 Nếu thật sự yêu thương anh em, chúng ta sẽ tôn trọng quan điểm của họ, và nếu có thể được, chúng ta sẵn lòng nhân nhượng. Tinh thần nhân nhượng hòa hợp với lời của Phao-lô “Chớ ai tìm lợi riêng cho mình, nhưng ai nấy hãy tìm cho kẻ khác”.—1 Cô-rinh-tô 1024. 19. Tình yêu thương giúp chúng ta phản ứng thế nào khi bị người khác xúc phạm? 19 “Tình yêu-thương... chẳng nóng-giận, chẳng nghi-ngờ sự dữ [“không ghi nhớ việc dữ”, “Bản Dịch Mới”]”. Tình yêu thương không dễ dàng nóng giận vì lời nói hoặc hành động của người khác. Đành rằng bực tức cũng chỉ là điều tự nhiên khi bị người khác xúc phạm. Nhưng dù giận có lý do chính đáng, tình yêu thương không để cho chúng ta tiếp tục căm giận. Ê-phê-sô 426, 27 Chúng ta sẽ không ghi nhớ những lời nói hoặc hành động gây đau lòng ấy như thể ghi vào một sổ kế toán để khỏi quên. Thay vì thế, tình yêu thương thôi thúc chúng ta noi gương Đức Chúa Trời đầy yêu thương của chúng ta. Như Chương 26 cho thấy, Đức Giê-hô-va tha thứ khi có lý do chính đáng. Khi tha thứ, Ngài quên đi, nghĩa là Ngài không phạt chúng ta về những tội lỗi ấy trong tương lai. Đức Giê-hô-va chẳng ghi nhớ việc dữ; chúng ta không biết ơn Ngài sao? 20. Chúng ta sẽ phản ứng ra sao nếu một anh em cùng đức tin mắc bẫy tội lỗi và gánh chịu hậu quả thảm hại? 20 “Tình yêu-thương... chẳng vui về điều không công-bình”. Một bản Kinh Thánh viết “Tình yêu thương... không vui mừng khi thấy người khác phạm tội”. Bản dịch của Moffatt nói “Tình yêu thương không vui mừng khi người khác lầm lạc”. Tình yêu thương không lấy làm vui thú điều không công bình nên chúng ta không dung túng bất cứ hình thức vô luân nào. Chúng ta phản ứng ra sao nếu một anh em cùng đức tin mắc bẫy tội lỗi và gánh chịu hậu quả thảm hại? Tình yêu thương không cho phép chúng ta vui mừng, như thể nói Tốt! Như vậy là đáng lắm!’ Châm-ngôn 175 Tuy nhiên, chúng ta vui mừng khi một anh em đã lầm lỗi thực hiện những bước tích cực nhằm hồi phục sau khi sa ngã về thiêng liêng. “Con đường tốt-lành hơn” 21-23. a Phao-lô muốn nói gì khi viết “tình yêu-thương chẳng hề hư-mất bao giờ”? b Điều gì sẽ được xem xét trong chương cuối? 21 “Tình yêu-thương chẳng hề hư-mất bao giờ”. Phao-lô muốn nói gì qua những lời này? Văn cảnh cho thấy ông đang bàn về những khả năng kỳ diệu mà Đức Chúa Trời ban cho các tín đồ Đấng Christ thời ban đầu qua thánh linh. Những khả năng ấy là dấu hiệu cho thấy Đức Chúa Trời ban ân huệ cho hội thánh mới thành lập. Nhưng không phải tất cả các tín đồ Đấng Christ đều có thể chữa bệnh, nói tiên tri, hoặc nói tiếng ngoại quốc. Tuy nhiên, điều ấy không quan trọng; cuối cùng những điều mầu nhiệm ấy sẽ hết. Dù vậy, vẫn còn lại một điều khác, một điều mà mọi tín đồ Đấng Christ đều có thể vun trồng. Điều đó ưu việt hơn, lâu bền hơn bất cứ khả năng mầu nhiệm nào. Thật vậy, Phao-lô gọi điều ấy là “con đường tốt-lành hơn”. 1 Cô-rinh-tô 1231 “Con đường tốt-lành hơn” này là gì? Đó là đường lối yêu thương. Dân Đức Giê-hô-va được nhận diện bởi tình yêu thương lẫn nhau 22 Thật vậy, tình yêu thương của tín đồ Đấng Christ mà Phao-lô miêu tả “chẳng hề hư-mất bao giờ”, nghĩa là sẽ không bao giờ dứt. Cho đến ngày nay, tình yêu thương quên mình này là đặc điểm phân biệt các môn đồ thật của Chúa Giê-su. Chúng ta không thấy bằng chứng của tình yêu thương như thế trong các hội thánh của những người thờ phượng Đức Giê-hô-va trên khắp đất sao? Tình yêu thương đó sẽ tồn tại mãi, vì Đức Giê-hô-va hứa ban sự sống đời đời cho những tôi tớ trung thành của Ngài. Thi-thiên 379-11, 29 Mong sao chúng ta tiếp tục cố gắng hết sức “bước đi trong sự yêu-thương”. Làm thế, chúng ta hưởng nhiều hạnh phúc hơn vì chúng ta cho. Hơn thế nữa, chúng ta có thể tiếp tục sống—vâng, tiếp tục yêu thương—mãi mãi, theo gương Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời yêu thương của chúng ta. 23 Chương này kết thúc phần nói về tình yêu thương, trong đó chúng ta đã bàn về cách biểu lộ tình yêu thương lẫn nhau. Nhưng vì hưởng lợi ích qua nhiều cách nhờ tình yêu thương của Đức Giê-hô-va—cũng như nhờ quyền năng, sự công bình, khôn ngoan của Ngài—chúng ta nên tự hỏi Làm thế nào tôi có thể chứng tỏ với Đức Giê-hô-va tôi thật sự yêu mến Ngài?’ Câu hỏi này sẽ được xem xét trong chương cuối.
anh đã biết yêu thương từ đó