toán 3.8 có học sinh khá được không

Những sản phẩm bàn làm việc có hộc tủ mang đến sự tiện lợi trong quá trình sử dụng. Tại Nội thất Hòa Phát có đa dạng các mẫu bàn làm việc có hộc đẹp, chất lượng cao. Mỗi một sản phẩm đều có đầy đủ giấy tờ bảo hành giúp khách hàng an tâm khi mua. 1. Giới thiệu bàn làm việc có hộc tủ Cơ sở lưu trú du lịch được xây dựng thành khối hoặc thành quần thể các biệt thự, nhà thấp tầng, căn hộ, thường ở khu vực có cảnh quan thiên nhiên đẹp, không khí trong lành, thường gần biển, gần sông, gần núi, đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất, trang Cách kích hoạt thẻ sinh viên tích hợp ngân hàng. Thẻ ATM sau khi nhận từ phí ngân hàng cần được kích hoạt để hoạt động, mọi người thực hiện theo các bước hướng dẫn sau để kích hoạt thẻ: Cho thẻ vào máy ATM và chọn ngôn ngữ. Đăng nhập mã pin do ngân hàng cấp Khi lên cấp 3,môn Toán chủ yếu là ôn tập lại rồi mới đến các phần kiến thức nâng cao, môn Lý thì gồm các chương tách biệt nhau, trong khi đó môn hoá lại có những đặc điểm riêng đó là phần kiến thức nền móng lại nằm chủ yếu ở chương trình cấp 2, Khi lên cấp 3 Ngoài những ưu điểm trên, sản phẩm còn có mức giá khá bình dân vì vậy không khó để lọt top 8 nước tẩy trang tốt cho da khô. *Giá tham khảo: 89.000 vnđ/sản phẩm. Laneige Perfect Makeup Cleansing Water; Da khô nên dùng nước tẩy trang nào? Laneige Perfect Makeup Cleansing Water - dòng sản Frau Sucht Reichen Mann Im Internet. Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng ở nhân cách con người. Trong các môn học ở tiểu học cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí rất quan trọng vì Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán có rất nhiều ứng dụng trong cuộc sống, nó là chìa khoá rất cần thiết để học các môn học khác và học tiếp môn Toán ở các bậc học tiếp theo. Đồng thời môn Toán còn có khả năng như phát triển tư duy lôgic, những thao tác trí tuệ cần thiết giúp con người trong hoạt động thực tiễn đạt hiệu quả như mong muốn. Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở tiểu học được hình thành chủ yếu bằng thực hành, luyện tập và thường xuyên được ôn tập, củng cố, phát triển, vận dụng trong học tập và trong đời vào năm học mới, sau khi nhận học sinh một vài tuần, các nề nếp đang được ổn định dần, song song tiến hành ôn tập toán, ôn luyện lại kiến thức đã học, nhanh chóng giúp các em củng cố sau hai tháng nghỉ kiểm tra ôn tập hằng ngày, lớp tôi có một số học sinh chưa thực sự ham học phần toán giải có lời văn, và tiết học thụ động, lười, ít chú ý môn học. Vì vậy, tôi áp dụng một số biên pháp mà những năm qua tôi thực hiện có kết quả. Trăn trở trước đối tượng học sinh chưa ham học toán có lời văn. Vì vậy các em không chủ động trong học tập mà còn ham chơi làm ảnh hưởng đến chỉ tiêu học tập của lớp. Trong phương pháp học mới của chương trình tiểu học hiện nay lại coi trọng việc phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập, cần tổ chức nhiều hình thức học tập thu hút học sinh. Qua thực tế giảng dạy ở các khối lớp, đặc biệt nhiều năm đứng lớp ở khối 3, tôi thấy giải toán có lời văn có vị trí rất quan trọng trong nội dung môn Toán ở trường tiểu học. Các em được làm quen với toán có lời văn ngay từ lớp một, đặc biệt ở học kì II lớp một các em đã viết lời giải cho phép tính Vì vậy đây cũng là một vấn đề mà chúng tôi luôn luôn trao đổi, thảo luận trong những buổi sinh hoạt chuyên môn, tích luỹ nghiệp vụ do nhà trường tổ chức. Làm thế nào để học sinh hiểu được đề toán, viết được tóm tắt, nêu được câu lời giải hay, phép tính đúng. Điều đó đòi hỏi rất nhiều công sức và sự nỗ lực không biết mệt mỏi của người giáo viên đứng lớp . Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 3 giải toán có lời văn", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trênSáng kiến kinh nghiệm Đề tài Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 3 giải toán có lời văn Mục lục Trang I. MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2 2. Mục đích nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2 3. Đối tượng nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .3 4. Phương pháp nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . .3 II. PHẦN NỘI DUNG 3 1. Cơ sở lý luận của sáng kiến . . . . . . . . . . . . . . 3 2. Thực trạng của kĩ năng giải toán . . . . . . . . . 4 3. Các giải phápđã sử dụng để giải quyết vấn đề . . . . . 5 3. dẫn học sinh nắm chắc các bước giải toán6 Củng cố các bước giải thông qua hệ thống 8 Hướng dẫn học sinh tự xây dựng một đề toán mới12 3. 4. Khích lệ học sinh tạo hứng thú khi học tập14 hợp chặt chẽ với các lực lượng, PH 15 quả của sáng kiến kinh nghiệm17 III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 18 Kết luận . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 18 Kiến 2. Kiến nghị . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15 3. Tài liệu tham khảo16 ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng ở nhân cách con người. Trong các môn học ở tiểu học cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí rất quan trọng vì Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán có rất nhiều ứng dụng trong cuộc sống, nó là chìa khoá rất cần thiết để học các môn học khác và học tiếp môn Toán ở các bậc học tiếp theo. Đồng thời môn Toán còn có khả năng như phát triển tư duy lôgic, những thao tác trí tuệ cần thiết giúp con người trong hoạt động thực tiễn đạt hiệu quả như mong muốn.. Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở tiểu học được hình thành chủ yếu bằng thực hành, luyện tập và thường xuyên được ôn tập, củng cố, phát triển, vận dụng trong học tập và trong đời sống. Bước vào năm học mới, sau khi nhận học sinh một vài tuần, các nề nếp đang được ổn định dần, song song tiến hành ôn tập toán, ôn luyện lại kiến thức đã học, nhanh chóng giúp các em củng cố sau hai tháng nghỉ hè. Qua kiểm tra ôn tập hằng ngày, lớp tôi có một số học sinh chưa thực sự ham học phần toán giải có lời văn, và tiết học thụ động, lười, ít chú ý môn học. Vì vậy, tôi áp dụng một số biên pháp mà những năm qua tôi thực hiện có kết quả. Trăn trở trước đối tượng học sinh chưa ham học toán có lời văn. Vì vậy các em không chủ động trong học tập mà còn ham chơi làm ảnh hưởng đến chỉ tiêu học tập của lớp. Trong phương pháp học mới của chương trình tiểu học hiện nay lại coi trọng việc phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập, cần tổ chức nhiều hình thức học tập thu hút học sinh. Qua thực tế giảng dạy ở các khối lớp, đặc biệt nhiều năm đứng lớp ở khối 3, tôi thấy giải toán có lời văn có vị trí rất quan trọng trong nội dung môn Toán ở trường tiểu học. Các em được làm quen với toán có lời văn ngay từ lớp một, đặc biệt ở học kì II lớp một các em đã viết lời giải cho phép tính Vì vậy đây cũng là một vấn đề mà chúng tôi luôn luôn trao đổi, thảo luận trong những buổi sinh hoạt chuyên môn, tích luỹ nghiệp vụ do nhà trường tổ chức. Làm thế nào để học sinh hiểu được đề toán, viết được tóm tắt, nêu được câu lời giải hay, phép tính đúng. Điều đó đòi hỏi rất nhiều công sức và sự nỗ lực không biết mệt mỏi của người giáo viên đứng lớp . Là một giáo viên đã có nhiều năm trực tiếp chủ nhiệm và giảng dạy ở khối lớp 3, qua kinh nghiệm của bản thân và học hỏi, trao đổi kinh nghiệm cùng đồng nghiệp, tôi đã rút ra được “Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 3 giải toán có lời văn” để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường nói chung và đối với học sinh lớp 3 nói riêng. 2. Mục đích nghiên cứu - Nguyên nhân cơ bản dẫn đến các em không làm được bài làm là Năng lực tư duy của các em phát triển không đồng đều, khả năng suy luận còn rất kém - Nghiên cứu đề tài này nhằm giúp học sinh học tốt môn Toán, để giải được các bài toán có lời văn trong chương trình đổi mới sách giáo khoa Toán lớp 3. - Khách thể là 30 học sinh lớp 3 do tôi phụ trách. 3. Đối tượng nghiên cứu - Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa toán 3. - Nghiên cứu những nguyên nhân dẫn đến học sinh học yếu toán. - Nghiên cứu những biện pháp, phương pháp giáo dục hay phù hợp để khắc sâu kiến thức, hình thành thói quen, giúp học sinh nắm và để học tốt môn Toán. 4. Phương pháp nghiên cứu. Trong đề tài này tôi sử dụng phối kết hợp các nhóm phương pháp dạy học như sau - Phương pháp đàm thoại, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp với học sinh lớp 3. - Phương pháp quan sát. - Phương pháp điều tra. - Phương pháp thực hành luyện tập. - Phương pháp tổng kết. DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 1. C¬ së lí luận của sáng kiến kinh nghiệm Giải toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế, nội dung bài toán được thông qua những câu văn nói về những mối quan hệ, tương quan và phụ thuộc, có liên quan tới cuộc sống thường xảy ra hàng ngày. Cái khó của bài toán có lời văn chính là ở chỗ làm thế nào để lược bỏ được những yếu tố về lời văn đã che đậy bản chất toán học của bài toán. Hay nói một cách khác là làm sao phải chỉ ra được các mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứa đựng trong bài toán và tìm được những câu lời giải phép tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số của bài toán. Nhưng làm thế nào để học sinh hiểu và giải toán theo yêu cầu của chương trình mới, đó là điều cần phải trao đổi nhiều đối với chúng ta – những người trực tiếp giảng dạy cho các em nhất là việc Đặt câu lời giải cho bài toán. Nhưng với yêu cầu đổi mới của giáo dục thì hiện nay ngay từ lớp 1 học sinh đã được yêu cầu viết câu lời giải, đây quả là một bước nhảy vọt khá lớn trong chương trình môn toán. Nhưng nếu như nắm bắt được cách giải toán ngay từ lớp 1, 2, 3 thì đến các lớp trên các em dễ dàng tiếp thu, nắm bắt tốt, tôi luyện để trang bị thêm vào hành trang kiến thức của mình để tiếp tục học tốt ở các lớp sau. Ta thấy rằng, giải toán ở tiểu học trước hết là giúp các em luyện tập, vận dụng kiến thức, các thao tác thực hành vào thực tiễn. Qua đó, từng bước giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận lôgíc. Thông qua giải toán mà học sinh rèn luyện được phong cách của người lao động mới Làm việc có ý thức, có kế hoạch, sáng tạo và hăng say, miệt mài trong công việc. Thực tế qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy ở khối lớp 3, tôi nhận thấy học sinh khi giải các bài toán có lời văn thường rất chậm so với các dạng bài tập khác. Các em thường lúng túng khi đặt câu lời giải cho phép tính, có nhiều em làm phép tính chính xác và nhanh chóng nhưng không làm sao tìm được lời giải đúng hoặc đặt lời giải không phù hợp với đề toán đặt ra. Chính vì thế nhiều khi dạy học sinh đặt câu lời giải còn vất vả hơn nhiều so với dạy trẻ thực hiện các phép tính ấy để tìm ra đáp số. Việc đặt lời giải là một khó khăn lớn đối với một số em học sinh. Các em mới chỉ đọc được đề toán chứ chưa hiểu được đề, chưa trả lời các câu hỏi thầy nêu Bài toán cho biết gì ?...Đến khi giải toán thì đặt câu lời giải chưa đúng, chưa hay hoặc không có câu lời giảiNhững nguyên nhân trên không thể đổ lỗi về phía học sinh 100% được mà một phần lớn đó chính là các phương pháp, cách áp dụng, truyền đạt của những người thầy. Đây cũng là lý do mà tôi chọn đề tài này, mong tìm ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 nói riêng và trong môn toán 3 nói chung. Để từ đó, các em có thể thành thạo hơn với những bài toán có lời văn khó và phức tạp ở các lớp trên. 2. Thực trạng về kĩ năng giải toán có lời văn của học sinh lớp 3. Thực trạng chung của nhà trường. a. Thuận lợi - Nhà trường được sự quan tâm của chính quyền địa phương, của hội phụ huynh học sinh. - Ban giám hiệu nhà trường năng nổ nhiệt tình, sáng tạo luôn chỉ đạo sát sao việc dạy học của giáo viên và học sinh. - Đội ngũ giáo viên trong trường luôn nhiệt tình giảng dạy, yêu nghề mến trẻ - Về học sinh nhìn chung các em đều ngoan, có ý thức vươn lên trong học tập. Bên cạnh những thuận lợi trên nhà trường còn gặp phải không ít khó khăn. b. Khó khăn - Là một xã dân cư chủ yếu sống bằng nghề nông, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, chính điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập cũng như chất lượng học tập của các em. - Nhiều gia đình đi làm ăn xa gửi con cho ông bà chăm sóc do ông bà đã già yếu nên không quán xuyến được việc học hành của các cháu. - Do tâm lý chung của học sinh tiểu học còn ham chơi nên việc học hành của các em nếu không có sự giám sát chặt chẽ của gia đình thì khó có hiệu quả cao. - Về cơ sở vật chất của nhà trường Tuy nhà trường đã có đủ phòng học nhưng thiết bị dạy và học chưa đáp ứng được việc đổi mới phương pháp dạy học. - Về đội ngũ giáo viên Nhà trường có đội ngũ giáo viên nhiệt tình giảng dạy song còn gặp nhiều khó khăn do trình độ giáo viên còn chưa đồng đều. Thực trạng của lớp. Năm học 2015-2016 tôi được phân công giảng dạy lớp 3B trường tiểu học Quảng Thịnh. Lớp 3B do tôi chủ nhiệm và giảng dạy có 30 học sinh, trong đó - Con cán bộ công chức 5 em. - Con gia đình nông nghiệp 25 em. - Nam 20 em; nữ 10 em. - Các em ở rải rác khắp các thôn trong xã, có nhiều học sinh ở xa trường nên việc đi lại của các em gặp rất nhiều khó khăn điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của các em. - Qua thực tế giảng dạy và thảo luận cùng đồng nghiệp, tôi nhận thấy + Việc tóm tắt, tìm hiểu đề đang còn nhiều khó khăn đối với một số học sinh đọc hiểu còn chậm. Vì kĩ năng đọc thành thạo của các em chưa cao, nên các em đọc được đề toán và hiểu đề còn chậm chạp + Thực tế trong một tiết dạy 35- 40 phút, thời gian dạy kiến thức mới mất nhiều, phần bài tập hầu hết là ở cuối bài nên thời gian để luyện nêu đề, nêu câu trả lời không được nhiều mà học sinh chưa thành thạo việc đọc đề toán. Thực trạng của dạy và học Như chúng ta đã biết giải toán lớp 3 là sự tiếp tục của chương trình lớp 2 nhưng mức đọ cao hơn. Đó là loại bài giải tìm một trong các phần bằng nhau của một số, gấp một số lên nhiều lần, so sánh số lớn gấp mấy lần số bé, so sánh số bé bằng một phần mấy số lớn, bài toán liên quan đén rút về đơn vị và một số bài toán nội dung hình học Mức độ yêu cầu giait toán ở lớp 3 cao hơn, đó là ở lớp 2 học sinh đã biết được các bước phải thực hiện khi tìm cách giải bài toán và trình bày bài lớp 3 củng cố lời văn cho mỗi phép tính, đặc biệt là kĩ năng giải toán tổng hợp. Nâng số lượng phép tính đề giải bài toán có đến hai bước tính. Học thêm cách tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông là loại bài của chương trình lớp 4 cũ đưa xuống. Ở tiểu học các bài toán giải có vị trí rất quan trọng, kết quả học toán của học sinh cũng được đánh giá trước hết qua khả năng giải toán, biết giải thành thạo các dạng toán cũng là tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá trình độ học toán của mỗi học sinh. Nhưng thực tế khi gặp các bài toán có lời văn, học sinh thường lúng túng, không biết định hướng, tìm tòi phương pháp giải mặc dù các em nắm rất vững các kiến thức về phép cộng, trừ, nhân, chia Khi giải toán có lời văn hầu hết các em chưa nắm rõ dữ kiện và yêu cầu đề toán, chưa biết lựa chọn phép tính và lời giải phù hợp, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra mối liên hệ giữa các dữ liệu trong bài toán để giải được bài toán. Chính vì vậy trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần dạy học linh hoạt theo hướng tự chủ, phương pháp phù hợp với đối tượng học sinh. Tổ chức dạy học nhẹ nhàng sẽ mang lại hiệu quả, không gò bó áp đặt luôn gây hứng thú cho các em học tập để đạt chuẩn kiến thức kĩ năng. Trong nhiều năm theo dõi học sinh học môn Toán, đặc biệt là năm nay, tôi trực tiếp theo dõi các em học sinh lớp 3 giải toán nói riêng, tôi thấy các em có một thói quen không tốt cho lắm đó là đọc đầu bài qua loa, sau đó giải bài toán ngay, làm xong không cần kiểm tra lại kết quả, cho nên, khi trả bài các em mới biết là mình sai. Kết quả khảo sát việc giải toán đầu năm. Tôi đã khảo sát việc giải toán của 30 học sinh lớp 3B và thu được kết quả như sau Bài toán Có 20 lít dầu rót vào các can, mỗi can 4 lít. Hỏi có mấy can dầu? Sĩ số Giải thành thạo Giải chậm Chưa nắm được cách giải 30 em 11 em = 36,6 % 11 em = 36,6 % 8 em = 26,8% Qua khảo sát tôi thấy tỉ lệ học sinh chưa nắm được cách giải còn quá cao chiếm 26,8%, học sinh giải thành thạo còn thấp chỉ đạt 36,6%. Lí do là học sinh viết lời giải còn lủng củng, sai lời giải, sai danh số giữa can dầu và lít dầu. Từ thực trạng trên, để học sinh giải toán có lời văn thành thạo đạt mức cao hơn và không còn học sinh chưa nắm được cách giải, viết lời giải đúng, danh số chính xác và giúp các em học sinh có hứng thú trong học tập, nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, tôi đã mạnh dạn đổi mới phương pháp giảng dạy và tổ chức các hình thức dạy học phù hợp. * Nguyên nhân - Về giáo viên Còn chủ quan, chưa chú trọng các khâu trong hướng dẫn giải cho học sinh. Chưa khắc sâu và so sánh cho học sinh cách giải của các dạng toán này. - Về học sinh Do phần lớn các em còn chủ quan khi làm bài, chưa nhớ kĩ các phương pháp giải dạng toán. Mặt khác, cũng có thể là các em chưa được củng cố rõ nét về các dạng toán nên sự sai đó không tránh khỏi. Còn nữa, đây là các bài toán áp dụng rất thực tế mà các em quên mất phương pháp thử lại nên kết quả đưa ra rất đáng tiếc. * Xuất phát từ tình hình thực tế của những năm học trước, tôi đã mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy dạng toán này để dạy ở khối 3 ngay từ đầu năm học 2015-2016. Mục đích chính giúp các em có phương pháp giải toán, làm cho các em biết chủ động thực hiện giải toán không máy móc mà phải dựa vào tư duy, phân tích tổng hợp từ bản thân. 3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề Hướng dẫn học sinh nắm chắc các bước giải toán có lời văn Với kết quả đáng báo động, trên việc tìm một số giải pháp nâng cao hiệu quả giải toán có lời văn. Được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường cùng với những kinh nghiệm rút ra trong quá trình dạy học tôi đã tiến hành giảng dạy và hướng dẫn học sinh giải toán thông qua các trình tự sau - Đọc và nghiên cứu kĩ đề bài. - Phân tích và nhận dạng bài toán. - Tìm phương pháp giải. - Tóm tắt bằng phương pháp thích hợp. - Thiết lập trình tự và thực hiện bước tính. Để giúp cho học sinh có kĩ năng thành thạo trong việc giải toán thì chúng ta không chỉ hướng dẫn học sinh trong giờ toán à một yếu tố không kém phần quan trọng đó là luyện kĩ năng nói trong giờ Tiếng việt. Chúng ta đã biết học sinh lớp 3, đặc biệt là một số em việc học tập chưa hoàn thành, rụt rè trong giao tiếp. Chính vì vậy, để các em mạnh dạn tự tin khi phát biểu, trả lời người giáo viên cần phải luôn luôn gần gũi, khuyến khích các em giao tiếp, tổ chức các trò chơi học tập, được trao đổi, luyện nói nhiều trong các giờ Tiếng Việt giúp các em có vốn từ lưu thông; trong các tiết học các em có thể nhận xét và trả lời tự nhiên, nhanh nhẹn mà không rụt rè, tự ti. Bên cạnh đó, người giáo viên cần phải chú ý nhiều đến kĩ năng đọc cho học sinh Đọc nhanh, đúng, tốc độ, ngắt nghỉ đúng chỗ giúp học sinh có kĩ năng nghe, hiểu được những yêu cầu mà các bài tập đề ra. Qua thực tế giảng dạy tôi thấy khả năng suy luận của học sinh còn kém. Học sinh chưa có kỹ năng phân tích, tổng hợp trước một đề toán. Khả năng chuyển bài toán hợp về các bài toán đơn còn yếu. Khi giải toán các em chưa tập hợp được kiến thức, nhiều em lúng túng kể cả một số em có lực học khá. Điều đáng chú ý ở đây là cách đặt lời giải cho phép tính, rất nhiều em chưa biết cách đặt lời giải hoặc lời giải đặt chưa hợp lý. Do các em không được uốn nắn, luyện tập nhiều trong quá trình học. Như vậy nguyên nhân cơ bản dẫn đến các em không làm được bài làm là Năng lực tư duy của các em phát triển không đồng đều, khả năng suy luận còn rất kém. Mặc dù giáo viên đã hướng dẫn các em nêu đề toán, tìm hiểu đề và gợi ý nêu miệng lời giải nhưng cách trình bày, sự trau chuốt lời giải của các em chưa được thành thạo. Hiểu được những thiếu sót đó của các em, ở những tiết toán có bài toán giải tôi thường dành nhiều thời gian hơn để hướng dẫn kĩ và kết hợp trình bày mẫu nhiều bài giúp các em ghi nhớ và hình thành kĩ năng. Ví dụ Sau khi đọc đề toán ở trang 50 SGK Toán 3. “ Thùng thứ nhất đựng 18 l dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn thùng thứ nhất 6l dầu. Hỏi cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu?”. - Yêu cầu học sinh tập nêu bằng lời để tóm tắt bài toán Thùng 1 có 18l . Thùng 2 có nhiều hơn 6l. Hỏi cả hai thùng ... lít dầu? - Sau khi học sinh nêu được bằng lời để tóm tắt bài toán, tôi hướng dẫn học sinh tập tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng Thùng 1 Thùng 2 - Sau khi hướng dẫn học sinh tóm tắt được bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng, tôi tiếp tục hướng dẫn học sinh tìm lời giải + Nhìn vào sơ đồ ta thấy muốn tìm số lít dầu ở cả hai thùng trước hết ta phải tính gì? Tính số dầu ở thùng thứ hai. Yêu cầu học sinh nêu miệng lời giải Thùng thứ hai đựng được số lít dầu là Học sinh nêu miệng phép tính 18 + 6 = 24 lít Yêu cầu học sinh nêu miệng tiếp lời giải và phép tính thứ hai Cả hai thùng đựng được số lít dầu là 18 + 24 = 42 lít Tuy nhiên ở phép tính thứ hai, tôi thấy có một số em thực hiện tìm số dầu cả hai thùng bằng cách lấy 24 + 6 = 30 lít. Đối với những em này, tôi nhận thấy các em có khả năng tư duy chưa tốt, còn chưa nắm vững yêu cầu bài toán. Đây là những trường hợp nằm trong nhóm đối tượng học sinh yếu. Tôi phải hướng dẫn các em hiểu rõ Muốn tìm số dầu cả hai thùng ta phải làm gì? để các em nêu được Lấy số dầu thùng thứ nhất + số dầu ở thùng thứ hai và giúp cho các em thấy được số dầu ở thùng thứ nhất là 18l và số dầu ở thùng thứ hai là 24l. - Ở dạng bài này, giáo viên cũng cần cho học sinh luyện nêu miệng đề toán và tập tóm tắt đề toán bằng sơ đồ đoạn thẳng nhiều lần để các em ghi nhớ một bài toán. Ví dụ Bài tập 3 trang 50 - SGK toán 3 Bao gạo Bao ngô Tôi cho học sinh đọc thầm, đọc miệng tóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời theo yêu cầu. Học sinh Bao gạo nặng 27 kg. Bao ngô nặng hơn bao gạo 5kg. Hỏi cả hai bao gạo và ngô nặng tất cả bao nhiêu ki - lô - gam? Sau đó cho các em luyện cách trả lời miệng Bao ngô nặng số kg là 27 + 5 = 32 kg Cả hai bao nặng số kg là 32 + 27 = 59 kg Rồi tự trình bày bài giải Bài giải Bao ngô nặng số ki – lô - gam là 27 + 5 = 32 kg Cả hai bao nặng số ki – lô - gam là 32 + 27 = 59 kg Đáp số 59 ki lô gam. Củng cố các bước giải thông qua hệ thống bài tập Chương trình Toán lớp 3 mới thường được cho dưới các dạng sau + Một cửa hàng buổi sáng bán được 432l dầu, buổi chiều bán được gấp đôi buổi sáng. Hỏi cả hai buổi cửa hàng bán được bao nhiêu lít dầu? Bài tập 4 tr 103. + Một đội trồng cây đã trồng được 948 cây, sau đó trồng thêm được bằng số cây đã trồng. Hỏi đội đó đã trồng được tất cả bao nhiêu cây? Bài tập 3 tr 106... Nhưng dù ở hình thức nào, dạng nào tôi cũng tập trung luyện cho học sinh các kĩ năng Tìm hiểu nội dung bài toán, tìm cách giải bài toán và kĩ năng trình bày bài giải, được tiến hành cụ thể qua các bước sau Bước 1 Tìm hiểu nội dung bài toán. Cần cho học sinh đọc kĩ đề toán giúp học sinh hiểu chắc chắn một số từ khoá quan trọng nói lên những tình huống toán học bị che lấp dưới cái vỏ ngôn từ thông thường như “ gấp đôi”, “,”, “tất cả” Nếu trong bài toán có từ nào mà học sinh chưa hiểu rõ thì giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh hiểu được ý nghĩa và nội dung của từ đó ở trong bài toán đang làm, sau đó giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đăt câu hỏi đàm thoại “ Bài toán cho gì? Bài toán hỏi gì?” và dựa vào tóm tắt để nêu đề toán Đối với những học sinh kĩ năng đọc hiểu còn chậm, tôi dùng phương pháp giảng giải kèm theo các đồ vậ Điều kiện để được học sinh khá THCS, THPTCách xếp loại học lực, hạnh kiểm học sinh THCS và THPTVnDoc mời các bạn cùng tìm hiểu và theo dõi bài viết Cách xếp loại học lực, hạnh kiểm học sinh THCS và đánh giá, xếp loại học lực, hạnh kiểm của học sinh THCS, THPT được thực hiện theo quy định tại Thông tư 58/2011/TT-BGDĐT. Điều kiện xếp loại học sinh khá như nào? VnDoc mời quý phụ huynh cùng các em học sinh theo dõi bài viết dưới đây để hiểu hơn về quy định đánh giá, xếp loại học sinh THCS, Quy định về việc đánh giá, xếp loại học sinh THCS, THPTTheo nội dung của thông tư số 26/2020/TT-BGDĐT được Bộ giáo dục và đào tạo ban hành quy định về việc đánh giá các môn học trừ môn Âm nhạc, mỹ thuật, thể dục được đánh giá bằng nhận xét kết quả học tập theo mức đạt yêu cầu hoặc chưa đạt yêu cầu theo phương thức kết hợp giữa hai hình thức đánh giá bằng nhận xét và đánh giá bằng điểm số cụ thể. Kết thúc năm học thì học sinh sẽ được xếp loại Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu, kết quả cuối năm học học sinh xếp loại Giỏi sẽ được nhận giấy khen, phần thưởng còn học sinh xếp loại Yếu điểm trung bình các môn dưới 5,0 hoặc có một môn dưới 3,5 hoặc cả 3 môn Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ đều dưới 5,0 thì phải thi lại nếu đạt sẽ được lên lớp, nếu xếp loại Kém điểm trung bình dưới 3,5 hoặc có 1 môn bất kỳ dưới 2,0 sẽ phải ở lại lớp Điều kiện xếp loại học sinh khá?Cũng theo quy định tại thông tư số 26/2020/TT-BGDĐT được Bộ giáo dục và đào tạo ban hành quy định về việc đánh giá các môn học thì cấp học THCS và THPT học lực của học sinh được xếp thành 5 loại Giỏi, khá, trung bình, yếu và kém. Cụ thể, việc xếp loại học lực của học sinh hai cấp này sẽ dựa trên điểm trung bình của từng cấp. Theo đó, điểm trung bình môn là tổng hợp điểm của rất nhiều bài kiểm tra như bài kiểm tra thường xuyên, kiểm tra vấn đáp, kiểm tra định kỳ và kiểm tra cuối học kỳ. Thông qua điểm số này để đánh giá và xếp loại quá trình học tập của học bài kiểm tra để đánh giá học sinh THCS, THPT theo quy định mới năm 2021 bao gồm Kiểm tra, đánh giá thường xuyên bằng hình thức trực tiếp hoặc trực tuyến thông qua hỏi – đáp, viết, thuyết trình, thực hành, thí nghiệm, sản phẩm học tập hiện nay đang quy định kiểm tra thường xuyên gồm kiểm tra miệng, kiểm tra viết dưới 01 tiết, kiểm tra thực hành dưới 01 tiết; Kiểm tra, đánh giá định kỳ Giữa kỳ, cuối kỳ thông qua bài kiểm tra trên giấy hoặc trên máy tính, bài thực hành, dự án học tập hiện nay đang quy định gồm kiểm tra viết từ 01 tiết trở lên; kiểm tra thực hành từ 01 tiết trở lên; kiểm tra học kỳ.Điều kiện xếp loại học sinh khá cụ thể được quy định như sau– Điểm trung bình các môn học từ 6,5 trở lên, trong đó điểm trung bình của 1 trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 6,5 trở lên; đối với học sinh lớp chuyên của trường trung học phổ thông chuyên phải thêm điều kiện điểm trung bình môn chuyên từ 6,5 trở lên;– Không có môn học nào ĐTB dưới 5,0;– Các môn học đánh giá bằng nhận xét đạt loại Đ. Cụ thể đánh giá bằng nhận xét kết quả học tập đánh giá bằng nhận xét đối với các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể dục và đạt yêu cầu Đ nếu đảm bảo ít nhất một trong hai điều kiện sau+ Thực hiện được cơ bản các yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng đối với nội dung trong bài kiểm tra;+ Có cố gắng, tích cực học tập và tiến bộ rõ rệt trong thực hiện các yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng đối với nội dung trong bài kiểm vậy đối với học sinh THPT và THCS điều kiện xếp loại học sinh khá phải đảm bảo 3 điều kiện nêu trên, nếu toán hoặc văn trên thì đảm bảo không có môn nào điểm dưới và các môn học khác xét đánh giá đều đạt. Hay nhấtTiêu chuẩn xếp loại học lực học sinh theo học kì và cả năm theo thang điểm 101. Loại giỏi, nếu có đủ các tiêu chuẩn dưới đâyĐiểm trung bình các môn học từ 8,0 trở lên, trong đó đối với học sinhTrung học phổ thông chuyênthì điểm môn chuyên từ 8,0 trở lên; đối với học sinhTrung học cơ sởvàTrung học phổ thông không chuyênthì có một trong 2 mônToán,Ngữ văntừ 8,0 trở lên;Không có môn học nào điểm trung bình dưới 6, Loại khá, nếu có đủ các tiêu chuẩn dưới đâyĐiểm trung bình các môn học từ 6,5 trở lên, trong đó đối với học sinh Trung học phổ thông chuyên thì điểm môn chuyên từ 6,5 trở lên; đối với học sinh Trung học cơ sở và Trung học phổ thông không chuyên thì có một trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 6,5 trở lên;Không có môn học nào điểm trung bình dưới 5, Loại trung bình, nếu có đủ các tiêu chuẩn dưới đâyĐiểm trung bình các môn học từ 5,0 trở lên, trong đó đối với học sinh Trung học phổ thông chuyên thì điểm môn chuyên từ 5,0 trở lên; đối với học sinh Trung học cơ sở và Trung học phổ thông không chuyên thì có một trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 5,0 trở lên;Không có môn học nào điểm trung bình dưới 3, Loại yếu điểm trung bình các môn học từ 3,5 trở lên và không có môn học nào điểm trung bình dưới 2, Loại kém các trường hợp còn lạiQuy chế đánh giáhọc sinh giỏi, khá, trung bình?Tiêu chuẩn xếp loại học lực học sinh theo học kì và cả năm theo thang điểm 101. Loại giỏi, nếu có đủ các tiêu chuẩn dưới đâyĐiểm trung bình các môn học từ 8,0 trở lên, trong đó đối với học sinhTrung học phổ thông chuyênthì điểm môn chuyên từ 8,0 trở lên; đối với học sinhTrung học cơ sởvàTrung học phổ thông không chuyênthì có một trong 2 mônToán,Ngữ văntừ 8,0 trở lên;Không có môn học nào điểm trung bình dưới 6, Loại khá, nếu có đủ các tiêu chuẩn dưới đâyĐiểm trung bình các môn học từ 6,5 trở lên, trong đó đối với học sinh Trung học phổ thông chuyên thì điểm môn chuyên từ 6,5 trở lên; đối với học sinh Trung học cơ sở và Trung học phổ thông không chuyên thì có một trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 6,5 trở lên;Không có môn học nào điểm trung bình dưới 5, Loại trung bình, nếu có đủ các tiêu chuẩn dưới đâyĐiểm trung bình các môn học từ 5,0 trở lên, trong đó đối với học sinh Trung học phổ thông chuyên thì điểm môn chuyên từ 5,0 trở lên; đối với học sinh Trung học cơ sở và Trung học phổ thông không chuyên thì có một trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 5,0 trở lên;Không có môn học nào điểm trung bình dưới 3, Loại yếu điểm trung bình các môn học từ 3,5 trở lên và không có môn học nào điểm trung bình dưới 2, Loại kém các trường hợp còn lạiĐây là VD Hạng Học sinh Điểm XL Ghi chú 1 Nguyễn Văn A 9,8 Giỏi 2 Nguyễn Thị B 8,9 Giỏi 3 Nguyễn Văn M 9,1 Khá Toán 4 Trần Minh P 8,2 Khá Văn 5 Nguyễn Thị C 7,6 Khá 6 Nguyễn V 6,8 Khá 7 Nguyễn Thị T 7,2 TB Lý 8 Trần Minh C 5,8 TB 9 Nguyễn L 4,3 Yếu 10 Trần M 3,4 Kém1. Loại đạtXuất sắc Từ 9 đến 10Giỏi Từ 8 đến cận 9Khá Từ 7 đến cận 8Trung bình khá Từ 6 đến cận 7Trung bình Từ 5 đến cận 62. Loại không đạtYếu Từ 4 đến cận 5Kém Dưới 4[2]Học sinh giỏi 8,0 trở lênHọc sinh khá 7,0-7,9 trở lênHọc sinh trung bình 5,0-7,0trở lênHọc sinh yếu dưới 5,0Video liên quan Selfomy Hỏi Đáp Tư vấn điểm thi - tuyển sinh Mấy điểm được học sinh giỏi, khá,... 3 Trả lời đã trả lời 5 tháng 5, 2017 bởi Whiteflower Cử nhân điểm đã sửa 2 tháng 11, 2020 bởi trannhat900 ● Ban Quản Trị Tiêu chuẩn xếp loại học lực học sinh theo học kì và cả năm theo thang điểm 10 1. Loại giỏi, nếu có đủ các tiêu chuẩn dưới đây Điểm trung bình các môn học từ 8,0 trở lên, trong đó đối với học sinh Trung học phổ thông chuyên thì điểm môn chuyên từ 8,0 trở lên; đối với học sinh Trung học cơ sở và Trung học phổ thông không chuyên thì có một trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 8,0 trở lên; Không có môn học nào điểm trung bình dưới 6,5. 2. Loại khá, nếu có đủ các tiêu chuẩn dưới đây Điểm trung bình các môn học từ 6,5 trở lên, trong đó đối với học sinh Trung học phổ thông chuyên thì điểm môn chuyên từ 6,5 trở lên; đối với học sinh Trung học cơ sở và Trung học phổ thông không chuyên thì có một trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 6,5 trở lên; Không có môn học nào điểm trung bình dưới 5,0. 3. Loại trung bình, nếu có đủ các tiêu chuẩn dưới đây Điểm trung bình các môn học từ 5,0 trở lên, trong đó đối với học sinh Trung học phổ thông chuyên thì điểm môn chuyên từ 5,0 trở lên; đối với học sinh Trung học cơ sở và Trung học phổ thông không chuyên thì có một trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 5,0 trở lên; Không có môn học nào điểm trung bình dưới 3,5. 4. Loại yếu điểm trung bình các môn học từ 3,5 trở lên và không có môn học nào điểm trung bình dưới 2,0. 5. Loại kém các trường hợp còn lại đã trả lời 5 tháng 5, 2017 bởi ☠♛๖ۣۜɖเε♛✟ Tiến sĩ điểm Đây là VD Hạng Học sinh Điểm XL Ghi chú 1 Nguyễn Văn A 9,8 Giỏi 2 Nguyễn Thị B 8,9 Giỏi 3 Nguyễn Văn M 9,1 Khá Toán 4 Trần Minh P 8,2 Khá Văn 5 Nguyễn Thị C 7,6 Khá 6 Nguyễn V 6,8 Khá 7 Nguyễn Thị T 7,2 TB Lý 8 Trần Minh C 5,8 TB 9 Nguyễn L 4,3 Yếu 10 Trần M 3,4 Kém đã trả lời 5 tháng 5, 2017 bởi lf_ Thạc sĩ điểm Học sinh giỏi 8,0 trở lên Học sinh khá 7,0-7,9 trở lên Học sinh trung bình 5,0-7,0 trở lên Học sinh yếu dưới 5,0 Các câu hỏi liên quan em lớp 6 học sinh giỏi, lớp 7 học sinh trung bình, lớp 8 học sinh khá,lớp 9 học sinh khá thì tốt nghiệp loại gì ạ đã hỏi 29 tháng 12, 2020 trong Tư vấn điểm thi - tuyển sinh bởi Khách đã hỏi 14 tháng 1, 2022 trong Khác bởi = 11 câu trả lời 965 lượt xem Điểm trung bình em trên nhưng có 2 môn bị trung bì liệu em có đc học sinh khá hay không đã hỏi 11 tháng 2, 2017 trong Tư vấn điểm thi - tuyển sinh bởi Phạm minh cảnh ... Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp giúp học sinh còn hạn chế năng lực về học môn Toán lớp 4", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên 1. Mở đầu Lí do chọn đề tài. Đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người năng động sáng tạo, độc lập tiếp thu tri thức là một vấn đề mà nhiều nhà giáo dục đã và đang quan tâm trong giai đoạn hiện nay. Trong đó bậc Tiểu học là bậc học nền móng cho việc hình thành nhân cách, tri thức ở học sinh. Các môn học ở bậc Tiểu học có liên quan mật thiết và cùng hỗ trợ cho nhau. Trong các môn học ở Tiểu học, cùng với môn Tiếng việt môn Toán có một vị trí rất quan trọng nhằm góp phần trang bị những kiến thức cơ bản ban đầu về số học, các số tự nhiên, phân số, các đại lượng thông dụng, một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản. Chính vì vậy việc hình thành kiến thức cơ bản cho học sinh ở bậc Tiểu học là điều rất cần thiết. Chất lượng giáo dục hiện nay ngày một được nâng lên, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Song trong thực tế, chúng ta phải thẳng thắn thừa nhận rằng bên cạnh phần lớn học sinh có khả năng tiếp thu bài tốt vẫn còn một bộ phận không nhỏ học sinh tiếp thu bài chậm do nhiều nguyên nhân khác nhau. Bởi mỗi học sinh là một cá thể riêng biệt, các em khác nhau về ngoại hình, tính cách, điều kiện học tập và cả khả năng nhận thức trong học tập. Có những học sinh còn hạn chế năng lực về học môn Toán là hiện tượng đã và đang tồn tại trong các nhà trường. Việc dạy các em học sinh chưa hoàn thành ở môn Toán lên trình độ hoàn thành quả là một vấn đề không đơn giản. Đây là vấn đề hiện nay luôn được các nhà trường và xã hội quan tâm và tìm giải pháp để khắc phục. Vấn đề nêu trên rất khó khăn với không ít giáo viên bởi hiện tại chưa có tài liệu nghiên cứu nào bàn sâu vào vấn đề này, đồng nghiệp, nhà trường chưa có nhiều kinh nghiệm để giải quyết, khắc phục. Mặt khác, việc rèn học sinh còn hạn chế năng lực về học môn Toán sẽ làm cho các em tự tin hơn khi đến lớp, công tác duy trì sĩ số mới được đảm bảo, góp phần làm nên thắng lợi của công tác phổ cập giáo dục Tiểu học ở địa phương. Vậy là một giáo viên chủ nhiệm thì phải làm gì đối với những học sinh còn hạn chế năng lực về học môn Toán này? Đó chính là vấn đề mà tôi rất quan tâm và nó luôn thôi thúc tôi trong suốt quá trình dạy học. Trong những năm gần đây, tôi luôn được phân công giảng dạy lớp 4. Đó là điều kiện tốt giúp tôi tìm hiểu rõ về đặc điểm tâm sinh lí của các em và đề ra các biện pháp để rèn những học sinh còn hạn chế năng lực về học môn Toán có thể nắm được bài và hoà nhập vào các hoạt động trên lớp cùng các bạn. Bên cạnh đó, trong quá trình công tác tại trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc, những khó khăn mà tôi gặp phải luôn được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường và tập thể đồng nghiệp chia sẻ. Chính sự chia sẻ nhiệt tình đó đã góp phần tạo nên nhiều kinh nghiệm hữu ích được áp dụng thành công. Để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh của nhà trường tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh còn hạn chế năng lực về học môn Toán lớp 4 ” ở lớp 4B trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc. Mục đích nghiên cứu. - Nghiên cứu về nội dung, phương pháp dạy học sinh còn hạn chế năng lực về học môn Toán lớp 4, từ đó giúp học sinh còn hạn chế năng lực về học môn Toán nắm bắt, tiếp thu bài nhanh, nắm vững kiến thức đã học, đáp ứng yêu cầu chương trình của lớp học. - Đề xuất một số biện pháp giúp giáo viên lớp 4 nói riêng và giáo viên Tiểu học nói chung nắm được một số kinh nghiệm giúp học sinh còn hạn chế năng lực về học môn Toán. Đối tượng nghiên cứu. - Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học giúp học sinh còn hạn chế năng lực về học môn Toán lớp 4. - Học sinh lớp 4 còn hạn chế năng lực về học môn Toán. Phương pháp nghiên cứu. - Nghiên cứu các tài liệu về nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học môn Toán lớp 4. - Nghiên cứu phương pháp, hình thức tổ chức giúp học sinh còn hạn chế năng lực về học môn Toán lớp 4. - Phương pháp điều tra, thực nghiệm. 2. Nội dung Cơ sở lí luận. Theo yêu cầu về nội dung giáo dục Tiểu học đó là Phải đảm bảo cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kĩ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mĩ thuật. Đối với dạy học Toán lớp 4 nhằm giúp HS *Về số và phép tính - Số tự nhiên + Nhận biết một số đặc điểm chủ yếu của dãy số tự nhiên. + Biết đọc, viết, so sánh, sắp thứ tự các số tự nhiên. + Biết cộng, trừ các số tự nhiên; nhân số tự nhiên với số tự nhiên có ba chữ số; chia số tự nhiên có đến sáu chữ số cho số tự nhiên có đến ba chữ số. + Biết tìm một thành phần chưa biết của phép tính khi biết kết quả tính và thành phần kia. + Biết tính giá trị của biểu thức số có đến ba dấu phép tính có hoặc không có dấu ngoặc và biểu thức có chứa một, hai, ba chữ số dạng đơn giản. + Biết vận dụng tính chất giao hoán, kết hợp của phép cộng và phép nhân, tính chất nhân một tổng với một số để tính bằng cách thuận tiện nhất. + Biết tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính, nhân với 10, 100, 1000,Chia cho 10, 100, 1000,Nhân số có hai chữ số với 11. + Nhận biết dấu hiệu chia hết cho 2, 3, 5, 9, - Phân số + Bước đầu nhận biết về phân số qua hình ảnh trực quan. + Biết đọc, viết phân số; tính chất cơ bản của phân số; biết rút gọn, quy đồng mẫu số các phân số; so sánh hai phân số. + Biết cộng, trừ, nhân, chia hai phân số dạng đơn giản. * Về đo lường - Biết mối quan hệ giữa yến, tạ, tấn với kg; giữa giây, phút, giờ; giữa ngày và giờ; năm và thế kỉ; giữa dm2 và cm2; giữa dm2 và m2; giữa km2 và m2. .- Biết chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng thông dụng trong một số trường hợp cụ thể khi thực hành vận dụng. * Về các yếu tố hình học - Nhận biết góc nhọn, góc tù, góc bẹt; hai đường thẳng vuông góc, hai đường thẳng song song; một số đặc điểm về cạnh, góc của hình chữ nhật, hình vuông, hình bình hành, hình thoi. - Biết vẽ đường cao của hình tam giác, hai đường thẳng vuông góc, hai đường thẳng song song; hình chữ nhật, hình vuông khi biết độ dài các cạnh. - Biết tính chu vi, diện tích của hình bình hành, hình thoi. * Về một số yếu tố thống kê và tỉ lệ bản đồ - Biết đọc và nhận định mức độ đơn giản các số liệu trên biểu đồ cột. - Biết một số ứng dụng của tỉ lệ bản đồ trong thực tế. *Về giải bài toán có lời văn - Biết tự tóm tắt bài toán bằng cách ghi ngắn gọn hoặc bằng sơ đồ, hình vẽ. - Biết giải và trình bày bài giải các bài toán có đến ba bước tính, trong đó có các bài toán tìm số trung bình cộng, tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó, tìm hai số khi biết tổng hoặc hiệu và tỉ số của hai số. * Về phát triển ngôn ngữ, tư duy và góp phần hình thành nhân cách của học sinh - Phát triển năng lực phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và cụ thể hóa. - Biết diễn đạt một số nhận xét, quy tắc, tính chất, bằng ngôn ngữ nói, viết ở dạng khái quát. Dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng mà Bộ Giáo dục đã ban hành trên cơ sở giáo viên tổ chức và hướng dẫn học sinh tham gia vào các hoạt động học tập một cách tích cực, chủ động, sáng tạo, khuyến khích học sinh tự phát hiện và giải quyết các vấn đề của bài học để tự chiếm lĩnh rồi vận dụng kiến thức mới, góp phần tạo hứng thú và tự tin trong học tập toán của các đối tượng học sinh. Yêu cầu giáo viên phải dạy học theo cách phân hoá đối tượng học nhằm giải quyết chuẩn kiến thức kỹ năng tối thiểu và bồi dưỡng năng khiếu Toán học cho học sinh . Thực trạng. Qua nhiều năm làm công tác giảng dạy ở lớp 4 tôi đã nhận thấy - Chương trình toán lớp 4 là chương trình chuyển tiếp giữa các lớp 1, 2, 3. Học sinh được củng cố, mở rộng kiến thức về 4 phép tính cộng, trừ, nhân, chia và giải toán ... đặc biệt là giải các bài toán điển hình qua các vòng số. Trên tập hợp số tự nhiên, phân số; học sinh tiếp tục được học các đại lượng thông dụng, một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản. - Sự phát triển tâm sinh lí của sinh lớp 4 đang ở sự giao thời của lứa tuổi sao nhi đồng và lứa tuổi thiếu niên. Ở lứa tuổi này tư duy cụ thể của các em đang chuyển dần sang tư duy trừu tượng, sự ghi nhớ có chủ định ngày một phát triển hơn. Song sự phát triển tâm lí, tri thức, kinh nghiệm chưa được nhiều, chưa nhận thức đầy đủ, khái quát mà các em vẫn thiên về nhận thức trong những trường hợp, hoàn cảnh cụ thể. - Nhìn chung động cơ học tập của các em tương đối tốt. Tuy nhiên, tuy cùng hưởng thụ một nội dung chương trình giáo dục như nhau nhưng mỗi học sinh đều có sự phát triển về thể chất và trí tuệ, điều kiện hoàn cảnh sống và sự quan tâm chăm sóc ở gia đình, động cơ và thái độ học tập, năng lực học tập và khả năng tiếp thu bài cũng khác nhau nên trong một lớp học có rất nhiều đối tượng học sinh. Có nhiều học sinh tiếp thu bài nhanh, sâu sắc thì việc kiểm tra kiến thức, giảng dạy kiến thức mới, giáo viên thực hiện dễ dàng, các em dễ dàng làm được tất cả các bài tập giáo viên giao cho. Nhưng đối với các em học sinh còn hạn chế năng lực về học môn Toán thì rất khó khăn, vì các em tiếp thu bài chậm, thậm chí không hiểu bài. Khi không hiểu bài dẫn đến trường hợp các em không tự trải nghiệm, tương tác; thời gian cả lớp làm bài các em này thường không tập trung học bài. - Qua quá trình giảng dạy, bản thân nhận thấy rằng các em học sinh còn hạn chế năng lực về học môn Toán là những học sinh không chịu chú ý, chưa chuyên tâm vào việc học. Còn một bộ phận nhỏ thì các em chưa xác định được mục đích của việc học. Các em chỉ đợi đến khi lên lớp, nghe giáo viên giảng bài rồi ghi vào những nội dung đã học mà không hiểu được nội dung đó nói lên điều gì. - Đối tượng học sinh hạn chế về năng lực môn Toán thường là những em có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, cha mẹ ly hôn, bố mẹ đi làm ăn xa phải ở nhà với ông bà. Học sinh còn hạn chế về năng lực môn Toán thường có tâm lí tự ti, mặc cảm, hiểu chậm cái mới, quên nhanh cái vừa tiếp thu được. Quá trình ghi nhớ chậm, không bền vững, không đầy đủ và thiếu chính xác. Dễ quên với cái gì không liên quan, không phù hợp với nhu cầu mong đợi của trẻ, khó nhớ những gì có tính khái quát, trừu tượng, quan hệ lôgic. - Học sinh hạn chế về năng lực môn Toán gặp phải nhiều vướng mắc sau + Khả năng tính toán chậm do cộng, trừ, nhân, chia trong bảng chưa thuần thục. Khi thực hiện các phép tính cộng, trừ có nhớ và nhân, chia ngoài bảng, có nhiều lỗ hổng về kiến thức. + Đặt tính chưa đúng, còn lẫn lộn giữa cộng, trừ, nhân, chia. + Năng lực giải toán của một số học sinh chưa tốt. + Không vận dụng được kiến thức của bài trước cho bài sau. + Các em không thích môn Toán vì môn Toán khô khan, ít hình ảnh sinh động như những môn học khác. + Một số học sinh có thái độ thờ ơ với việc học tập, ngại cố gắng, thiếu tự tin, tiếp thu thụ động, chán nản trong học tập. Ngay đầu năm học 2017 - 2018 tôi đã tìm hiểu tình hình thực tế việc học toán của lớp 4B kết quả thu được như sau Tổng số học sinh Hoàn thành trở lên Chưa hoàn thành 32 em 27 em 5 em Từ kết quả trên, tôi mạnh dạn áp dụng một số biện pháp để giúp học sinh còn hạn chế về năng lực môn Toán lớp 4 trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc. 2. 3. Các giải pháp giúp học sinh còn hạn chế về năng lực môn Toán lớp 4. 2. Phân loại đối tượng học sinh. Việc phân loại đối tượng học sinh rất quan trọng, bởi lẽ nếu không biết được các em còn hạn chế chỗ nào thì rất khó kèm cặp. Tôi thực hiện thường xuyên công tác phân loại học sinh ở thời điểm đầu năm học, trong quá trình giảng dạyVì vậy ngay sau khi nhận lớp, tôi vừa dạy vừa theo dõi cũng như tham khảo giáo viên lớp dưới để đưa ra kết luận chính xác và khoanh nhóm đối tượng để đề ra phương pháp dạy học phù hợp. Xây dựng môi trường học tập thân thiện. Môi trường học tập cũng là một yếu tố quan trọng giúp phát huy tính tích cực của học sinh, nó là một trong những yếu tố giúp học sinh hạn chế năng lực môn Toán rất có hiệu quả. Tôi đã tạo cho học sinh một môi trường học tập tốt, giúp các em tự cảm nhận hết ý nghĩa của việc “ Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Sự thân thiện của giáo viên là điều kiện cần để thực hiện những biện pháp đạt hiệu quả cao. Thông qua cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nụ cười, tôi đã tạo được sự gần gũi, cảm giác an toàn cho học sinh để các em bày tỏ những khó khăn trong học tập, trong cuộc sống của bản thân mình. Bốn bức tường của lớp học, tôi và học sinh tận dụng để hỗ trợ cho việc học. Ví dụ Trưng bày “ Sản phẩm của em” Các sản phẩm đẹp do các em làm ra sau khi học thủ công, mĩ thuật, ; hay những bài toán có cách làm hay,... được trang trí trên tường để học sinh trong lớp cùng xem, học tập lẫn nhau, kích thích học sinh phấn đấu hoàn thiện làm đẹp, làm tốt sản phẩm của mình để được biểu dương trước lớp. Phòng học của lớp được nhà trường và đồng nghiệp đánh giá có tính thẩm mĩ và khoa học. - Góc toán học Là nơi trưng bày những bài giải toán, những bài tìm thành phần chưa biết, các bảng cộng, trừ,... với các nội dung theo chương trình đang học để khi vui chơi, lúc rảnh rỗi các em nhìn vào, lâu dần sẽ khắc sâu vào trí nhớ. - Góc văn thơ Tôi chọn những học sinh viết chữ đẹp viết một số bài thơ, đoạn văn hay đã học trong tuần hoặc các bài sưu tầm trên báo,... dán lên để tất cả học sinh cùng đọc nhằm kích thích sự yêu mến văn thơ, yêu thích viết chữ đẹp, cho các em tìm hiểu thêm về các con vật, giúp các em miêu tả khi làm tập làm văn hay vẽ về con vật trong môn Mĩ thuật. - Góc thi đua Nơi gắn cờ biểu dương tổ chăm ngoan, giữ vệ sinh tốt, tích cực phát biểu,... giúp học sinh phấn khởi học tập tốt, chấp hành tốt nội quy nhà trường, lớp học. Nơi này có bảng vàng danh dự ghi tên những học sinh giỏi, chăm ngoan để làm gương và là niềm vui cho các em. Đồng thời để khuyến khích học sinh khác phấn đấu noi theo. - Học sinh đóng góp truyện, sách báo... để xây dựng thư viện mi ni cho lớp nhằm trau dồi kỹ năng đọc, giúp học sinh thư giãn. Để lớp học luôn phong phú, kích thích sự rèn luyện của học sinh tôi thường xuyên thay đổi nội dung cho phù hợp với chủ điểm học sinh đang học, khuyến khích các em làm các sản phẩm sáng tạo hơn để trang trí cho các bạn cùng học tập. Đặc biệt tôi chú ý làm tốt nội dung ở góc thi đua. Tôi cho học sinh nhận xét sự cố gắng vươn lên, sự tiến bộ trong tuần của học sinh nhất là những em học sinh chưa hoàn thành. Danh sách học sinh được ghi trên bảng vàng danh dự cũng được thay đổi qua từng tháng. Thật sự học sinh rất hứng thú, phấn đấu hoàn thiện để mình, sản phẩm của mình được trưng bày lên lớp, được ghi tên vào góc thi đua, trên bảng vàng danh dự. Tôi rất mừng khi thấy học sinh trong lớp nhất là những em học sinh chưa hoàn thành môn Toán rất thích, rất tích cực tham gia và phần nào giúp các em lĩnh hội kiến thức ở môn Toán và các môn học khác rất tốt. Thường xuyên cải tiến nội dung và các hình thức tổ chức dạy học trong mỗi tiết học. - Phối hợp các hình thức dạy học theo lớp, theo nhóm hay hoạt động cá nhân một cách phù hợp có hiệu quả, tạo nhiều hình thức thi đua trong học tập. - Tổ chức các trò chơi học tập, cải tiến các bài tập trong sách giáo khoa thành trò chơi, câu đố hay giải ô chữ để thu hút sự chú ý ở học sinh, các em được học mà chơi, chơi mà học. Điều đặc biệt chú ý là trong mỗi tiết học, mỗi trò chơi tôi thường xuyên quan tâm khuyến khích tất cả các em tiếp thu bài chưa nhanh tham gia một cách tích cực, tự tin, thoải mái, tránh trường hợp để các em cảm thấy bị ép buộc. Ví dụ Trò chơi " Tìm bạn cho tôi" Mỗi đội có 20 tấm thẻ bằng bìa, trên đó ghi những phép tính toán học. Trong đó có các phép tính có giá trị bằng nhau. Cách chơi Chia lớp thành các đội, mỗi đội từ 4 - 6 em. Trong khoảng thời gian là 5 phút các đội phải tìm được các cặp đôi phép tính có kết quả bằng nhau. Đội nhanh nhất đúng nhất là đội chiến thắng. Trò chơi này giúp các em rèn kĩ năng tính nhẩm rất tốt. - Giáo viên thay hình thức tính nhẩm trong các phép tính +, -, x, thành trò chơi thi đua tiếp sức giữa các tổ. - Sử dụng phối hợp bài tập trắc nghiệm giúp tiết học thêm phong phú, sinh động. Thay vì cứ lặp đi lặp lại việc giải toán có lời văn, thỉnh thoảng tôi thay đổi bằng hình thức trắc nghiệm. Ví dụ Khoanh vào chữ đặt trước câu trả lời đúng 4A có 43 học sinh, lớp 4B có 41 học sinh, lớp 4C có 45 học sinh. Trung bình mỗi lớp có số học sinh là A. 41 học sinh B. 43 học sinh C. 45 học sinh 2. Hiện nay tổng số tuổi của hai mẹ con là 40 tuổi và mẹ hơn con 24 tuổi. Tuổi của mẹ hiện nay là A. 8 tuổi B. 64 tuổi C. 32 tuổi D. 16 tuổi Khi học sinh làm những dạng bài này, tôi luôn chú ý quan sát nhắc nhở các em tự tìm cách làm, tránh tình trạng các em không cần làm mà chỉ nhìn bài để khoanh và giúp các em ghi nhớ kiến thức đã học tôi cho học sinh trình bày cách làm để có được kết quả của mình. "Ứng dụng công nghệ thông tin" thiết kế giáo án điện tử để nâng cao hiệu quả giảng dạy. Ngày nay, do sự phát triển mạnh mẽ về công nghệ thông tin, việc thực hiện bài giảng bằng giáo án điện tử không những thay đổi hình thức dạy học mà còn nhiều tác dụng. Học sinh hứng thú học tập bởi các hình ảnh trực quan đẹp, mới lạ, sống động kiến thức trở nên gần gũi, học sinh dễ hiểu, gây sự tò mò, ham học hỏi. Thực hiện bài giảng bằng giáo án điện tử đã làm giảm sự “khô khan” của toán học, đồng thời có thể thiết kế được nhiều trò chơi lí thú, sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học và trong cùng một lúc có thể kiểm tra được nhiều đối tượng học sinh, khi kiểm tra câu trả lời, sự phản hồi của học sinh, giáo viên dễ dàng bật máy để kiểm tra, tiện lợi nhất là câu trả lời trắc nghiệm. Khuyến khích học sinh tham gia hoạt động ngoại khóa. Khuyến khích học sinh tham gia hoạt động ngoại khóa, học tập ngoài trời sẽ giúp học sinh có điều kiện tiếp xúc môi trường xung quanh, có cơ hội để giao lưu, học hỏi lẫn nhau. Qua đó rèn luyện tính nhanh nhẹn, sự tự tin, bản lĩnh. Đây là phẩm chất rất cần thiết của con người trong thời đại mới đồng thời giúp các em còn hạn chế về năng lực môn Toán có cơ hội thể hiện năng lực, nâng dần khả năng nhận thức của bản thân về mọi mặt. Từ đó giúp các em tiếp thu kiến thức về môn Toán tốt hơn Làm tốt công tác thi đua khen thưởng trong lớp học. Trong khi dạy ở tất cả các phân môn, tôi thực hiện đúng theo tinh thần đánh giá học sinh của Thông tư 22/2016/TT – BGDĐT, thường xuên chú ý đến sự tiến bộ từng mặt của từng em để có lời khen kịp thời dù là rất nhỏ. Nếu việc này làm tốt sẽ giúp các em thấy được mình đã có tiến bộ và được cô, các bạn khẳng định. Đây là một trong những động lực giúp các em cố gắng nhiều hơn nữa trong học tập. Bên cạnh đó tôi sử dụng những lời phê bình nhẹ nhàng nhưng có sức thuyết phục tránh các em bị tổn thương, tránh việc xử phạt nặng mỗi khi các em làm chưa đúng hoặc chưa tiến bộ. Mặt khác sự đối xử công bằng và bình đẳng của giáo viên đối với học sinh cũng rất quan trọng để các em tin tưởng vào sự đánh giá, nhận xét của giáo viên và xem giáo viên là người chuẩn mực đáng tin cậy. Phối hợp với giáo viên bộ môn trong việc giúp học sinh còn hạn chế về năng lực môn Toán. Trong thực tế, những học sinh còn hạn chế về năng lực môn Toán thì khả năng tiếp thu kiến thức ở các môn học khác cũng chậm. Chính vì thế, để việc kèm cặp học sinh còn hạn chế về năng lực môn Toán thành công chúng ta cần phối hợp với giáo viên dạy các môn đặc thù chú ý quan tâm kèm cặp, tạo điều kiện tối đa để các em tham gia lĩnh hội kiến thức một cách chủ động. Thành lập " Đôi bạn cùng tiến". Qua nắm được lực học, sở thích, điều kiện hoàn cảnh của từng em trong lớp, tôi phân công một học sinh có năng lực học toán tốt kèm một học sinh hạn chế về năng lực học toán và sắp xếp cho 2 em ngồi cùng một thành lập "đôi bạn cùng tiến" được tôi rất quan tâm. Khi thành lập đôi bạn học tập tôi chú ý tạo thành đôi bạn có thể giúp nhau tiến bộ về môn Toán, đồng thời mỗi đôi bạn này phải cùng sở thích, thân nhau và gần nhà nhau. Tôi hướng dẫn cho học sinh có năng lực học toán tốt cách kèm bạn học Nhắc nhở bạn học bài, xem lại bài; trao đổi kinh nghiệm học tập; cách học bài dễ thuộc; cách vận dụng kiến thức đã học vào làm bài tập; hướng dẫn bạn làm bài tập hoặc củng cố kiến thức mà bạn chưa hiểu vào sinh hoạt 15 phút đầu gi

toán 3.8 có học sinh khá được không